Xót xa lăng mộ vua Anh Tông chìm dưới lòng hồ (kỳ 5)

(VTC News) - Con đập Trại Lốc và sự vô tình của con người đã nhấn chìm luôn những bí ẩn thú vị về cuộc đời và cái chết của một vị vua oai hùng trong lịch sử Đại Việt.

Tin liên quan

» Cuộc tàn phá thảm khốc lăng mộ Trần Minh Tông (kỳ 4)
» Đau lòng lăng mộ 3 vị vua Trần trên đỉnh núi (kỳ 3)
» Di cốt 3 vị vua Trần ở Thái Bình hay Quảng Ninh? (kỳ 2)
» Những chuyện khó tin ở “nghĩa địa” các vua Trần (kỳ 1)


Đứng trên đập Trại Lốc, ông Nguyễn Hữu Tâm chỉ tay ra bốn hướng, mô tả dãy núi trùng điệp bao quanh hồ Trại Lốc rộng mênh mông. Xưa kia, giữa dãy núi trùng điệp ấy, có một thung lũng hữu tình, với con suối uốn lượn chảy qua. Giữa thung lũng, cạnh con suối, nổi lên một quả đồi nhỏ có tên là đồi Trán Quỷ. Trên ngọn quả đồi Trán Quỷ, có lăng mộ vua Trần Anh Tông, chìm trong cây cối, hoa trái.

Xưa kia, đồi Trán Quỷ là nơi các bậc đế vương thường xuyên lui đến hành lễ chiêm bái trước lăng mộ vua. Từ Thái Miếu, các bậc đế vương sẽ đi ra Mục Lăng (Trần Minh Tông), rồi tiếp tục đi dọc con suối Lốc lên đồi Trán Quỷ.

Lăng mộ vua Trần Anh Tông giờ nằm giữa hồ Trại Lốc. 

Ông Nguyễn Hữu Tâm mô tả thế này: 700 năm trước, vùng An Sinh là nơi uy nghi tráng lệ, nơi các Thái thượng hoàng nhà Trần tu ẩn, nơi các bậc đế vương đi về, nơi tiếng chuông tiếng mõ vang vọng. Trải hàng trăm năm thịnh trị, nhà Hồ soán ngôi, lăng tẩm vua Trần không còn được chăm chút cẩn thận nữa. Những lăng mộ chìm vào rừng già, bị lãng quên, bị trộm cắp, bị thiên nhiên khắc nghiệt tàn phá đến đổ nát.

Thập kỷ 40-50 của thế kỷ trước, vùng An Sinh, kéo dài đến tận Chí Linh (Hải Dương) toàn là rừng già, với những thân gỗ lim, nghiến to vài người ôm. Hổ thường xuyên về làng bắt trâu, bò, lợn, gà, thậm chí cả người.

Ông Tâm bên một lối đi lên lăng mộ còn khá nguyên vẹn. 

Rồi người dân tứ xứ tiến dần lên núi phát rừng làm ruộng, lập làng an cư. Lúc này, những lăng mộ bị lãng quên mấy trăm năm bỗng lộ ra. Con người lại tiếp tục tàn phá. Người ta thi nhau cuốc đất, moi đá tìm của báu, đồ cổ. Đỉnh điểm của sự tàn phá, phá một cách toàn diện, là người ta làm một con đập, dìm luôn cả lăng mộ khổng lồ xuống lòng hồ Trại Lốc.

Tôi đã có tổng cộng 3 lần tìm về An Sinh để được ra doi đất nổi lập lờ giữa hồ Trại Lốc, từng là đỉnh quả đồi Trán Quỷ. Hai lần về An Sinh, thì cả hai lần mưa lớn, nước từ toàn bộ sườn Tây Yên tử đổ ra con suối, tống về hồ, khiến nước dâng tới đập tràn. Khi nước hồ Trại Lốc lên đến đập tràn, thì toàn bộ ngọn đồi Trán Quỷ khi xưa, tức doi đất mộ vua bây giờ sẽ chìm dưới lòng hồ. Duy nhất ngọn cây lạ còn lơ phơ cành lá, cùng với bát hương còn nổi lên khỏi mặt nước chừng gang tay.

Mỗi khi có mưa lớn, toàn bộ phế tích lăng mộ lại chìm xuống lòng hồ. 

Anh Nguyễn Văn Thắng, người trông coi đập Trại Lốc và thầu hồ Trại Lốc lấy thuyền chở tôi ra doi đất nổi lên giữa hồ để viếng mộ vua Trần Anh Tông. Anh Thắng bảo: “Trước đây, mỗi lần mưa lớn, nước hồ dâng lên, là phế tích lăng mộ vua Trần biến mất dưới lòng hồ. Nhìn cảnh ấy xót quá, nên dân làng nhặt những viên gạch ở phế tích xây thành cái am nhỏ xíu, cao chừng hơn mét rồi đặt bát hương lên. Vị trí đặt bát hương cao hơn mặt tràn của đập Trại Lốc, nên dù mưa lớn, nước về ngập hồ, thì bát hương vẫn trồi lên khỏi mặt nước”.

Lăng mộ của vị vua nổi tiếng thời Trần giờ là thế này đây. 

Anh Thắng vẫn nhớ như in cảnh người ta tàn phá lăng mộ vua Trần Anh Tông: “Trước đây, quanh thung lũng trông như vườn cây của vua ấy, nhiều loại cây ăn quả cổ thụ lắm. Có thể 700 năm trước, lòng hồ Trại Lốc là vườn thượng uyển của vua, với đủ các loại cây ăn quả. Cây già chết đi, cây giống mọc lên nên vẫn còn đến tận những năm 70 của thế kỷ trước. Dưới lòng hồ còn có cả một vườn liễu khổng lồ, với những gốc liễu một người ôm không xuể. Nhưng hồi đắp đập họ chặt hết cây cối lấy gỗ đóng vào chân đập. Bao nhiêu tượng đá, bụt đá, voi ngựa, chân cột, cả chiếc bàn đá rất lớn, cùng lối đi là những bậc đá từ phía lăng Trần Minh Tông lên đồi Trán Quỷ dài mấy trăm mét cũng bị ủi vào phía chân đập. Người ta moi hết cả sườn đồi Trán Quỷ để lấy đất, còn lại mỗi ngọn đồi chon hỏn với phế tích lăng mộ này thôi”.

Tấm bia đá nằm phơi mưa nắng. 

Con thuyền nhỏ lướt sóng cập bờ. Trên doi đất chỉ toàn cây xấu hổ với gai móc sắc nhọn. Vẫn còn những lối lên lăng với bậc đá, với sấu chầu hai bên. Tuy nhiên, các tảng đá, các bậc đá, bia đá, sấu đá, rồng đá, tượng đá đều gãy làm nhiều mảnh, vỡ nham nhở.

Tôi cứ lăn tăn tự hỏi, chẳng lẽ mây mưa nắng gió lại làm vỡ được những tảng đá cứng như… đá này? Chẳng lẽ, người đời lại tự dưng ngứa tay đập vỡ nó ra? Anh Thắng bảo: “Toàn là do dân tìm vàng bạc châu báu phá hoại đấy. Họ đào mộ tìm vàng, rồi đập tượng đá, rồng đá, sấu đá, bia đá để xem có vàng bạc bên trong không. Toàn bọn phá hoại, làm gì có ai giấu vàng bạc trong đá cơ chứ!”.

Người ta đập vỡ cổ vật để tìm của. 

Nhìn cảnh mọi thứ đổ vỡ, anh Thắng và một số người dân xót xa lắm. Họ bàn nhau trộn ximăng, rồi gắn những mảnh vỡ lại, nhưng việc làm của họ không chuyên nghiệp, nên vết gắn cứ lôm nha lôm nhôm. Dù sao, hành động bảo vệ di tích đó cũng rất đáng quý rồi.

Việc trông coi phế tích lăng mộ Trần Anh Tông hình như không phải việc của Nhà nước, của chính quyền, mà lại là việc của anh chàng trông nom hồ cá. Dù hàng năm cả chục lần lăng mộ bị nhấn chìm trong nước, song phần lớn thời gian, hàng ngàn cổ vật lồ lộ giữa thanh thiên bạch nhật. Những tay trộm đồ cổ, những nhà sưu tầm cổ vật nhìn những bia đá, tượng đá, sấu đá, rồng đá có tuổi 700 năm mà thèm thuồng, muốn bê đi liền. Nhưng những tay trộm đồ cổ khó có thể tơ hào, vì đêm nào anh Thắng cũng ngủ trong căn nhà hoang ở doi đất giữa hồ liền kề với đồi Trán Quỷ để vừa trông hồ cá vừa trông nom ngôi mộ.

Hằng đêm anh Thắng ngủ trong ngôi nhà hoang này để trông cá và trông nom luôn đống cổ vật ở lăng mộ vua Anh Tông. 

Lăng mộ vua Trần Anh Tông đã được khai quật 2 lần vào năm 2007 và 2008, làm phát lộ nhiều thông tin quý giá. Người dân An Sinh nghĩ rằng, sau khi khai quật, lăng mộ sẽ được trùng tu hoành tráng, để người dân có chỗ hương khói, vua Trần đỡ tủi. Tuy nhiên, mấy năm qua rồi, lăng mộ vẫn nằm đó, với những gạch ngói, tượng đá, bậc đá bày cả đống trên ngọn đồi Trán Quỷ.

Cuộc khai quật của Viện Khảo cổ học Việt Nam cho thấy đây là một lăng mộ cực kỳ hoành tráng, nằm theo chiều Bắc – Nam, có cấu trúc 3 cấp nền, hình chữ nhật, nằm chồng xếp và lồng vào nhau. Cấp nền thứ nhất rộng gần 93 mét vuông, cấp nền thứ 2 rộng tới 1.018 mét vuông và cấp nền thứ 3 rộng tới 3.558 mét vuông. Như vậy, toàn bộ trung tâm lăng mộ rộng tới hơn 4.469 mét vuông, tức gần nửa héc-ta. Cùng với đó là hàng loạt các công trình quy mô lớn xung quanh lăng mộ.

Cổ vật các nhà khoa học moi lên từ lòng đất. 
 
Điều đáng chú ý, trong cuộc khai quật, các nhà khoa học đã tìm được số lượng khổng lồ đồ gốm sinh hoạt, gồm gốm men và đồ sành. Những di vật này đã gợi mở về những nghi lễ liên quan đến các lần ngự giá của các vua nhà Trần khi đến yết bái lăng mộ. Đáng lưu ý là những đồ gốm này chủ yếu của Việt Nam và chỉ có một lượng nhỏ gốm men của Trung Quốc.

Mặc dù cuộc khai quật đã thu được nhiều hiện vật, tư liệu khoa học, song khu di tích này vẫn ẩn chứa nhiều điều bí ẩn. Bí ẩn lớn nhất là tại khu vực trung tâm, các nhà khảo cổ đã cho đào một hố thám sát chính giữa, nhưng không tìm thấy dấu hiệu của huyệt mộ hoặc quan tài. Câu hỏi đặt ra là liệu có quan tài của vua Trần Anh Tông ở lăng mộ này và nếu có thì nó nằm ở vị trí nào?

Vết tích bó vỉa lăng mộ được các nhà khoa học làm phát lộ. 

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Canh Thân – Đại Khánh năm thứ 7 (1320), mùa xuân, tháng 3, ngày 6, Thượng Hoàng (Trần Anh Tông) băng ở cung Trùng Quang, phủ Thiên Trường, rước linh cữu vào cửa Tường Phù, quàn tại cung Thánh Từ (Thăng Long). Tháng 12, ngày 12 (năm 1320), táng Thượng Hoàng vào Thái Lăng ở Yên Sinh”.

Đại Việt sử ký toàn thư chép tiếp: “Mười hai năm sau, mùa xuân, tháng 2, ngày 15, năm Nhâm Thân (Khai Hựu năm thứ 4 - 1332), phụ táng Thuận Thánh Bảo Từ Hoàng Thái hậu (vợ vua Trần Anh Tông) vào Thái Lăng”.

Đại Việt sử ký toàn thư đã chép rõ như vậy, song 2 cuộc khai quật của các nhà khảo cổ lại chưa phát hiện được dấu tích của phần mộ là quan tài, huyệt mộ. Con đập Trại Lốc và sự vô tình của con người đã nhấn chìm luôn những bí ẩn thú vị về cuộc đời và cái chết của một vị vua oai hùng trong lịch sử Đại Việt.

Sấu đá còn khá nguyên vẹn. 

Trần Anh Tông tên thật là Trần Thuyên, là vị vua thứ 4 của nhà Trần (sau vua cha Trần Nhân Tông và trước Trần Minh Tông). Ông ở ngôi 21 năm (1293-1314) và làm Thái thượng hoàng 6 năm. Anh Tông là vị vua anh minh, được sự giúp sức của những nhà nho tài đức như Trương Hán Siêu, Đoàn Nhữ Hài, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trung Ngạn và những quan võ như Phạm Ngũ Lão, Lê Trung Hiển.

Ông giữ được đạo vua hiền, tôi trung, phép tắc nghiêm trang, thưởng phạt phân minh, chính trị không có điều gì hồ đồ. Việc học hành được mở mang rộng rãi, thu nạp được nhiều người tài. Chính vì thế, thời kỳ ông trị vì là giai đoạn thịnh trị của nhà Trần.

Vua Anh Tông hay vẽ tranh và làm thơ. Tuy nhiên, ngày nay chỉ tìm thấy 12 bài thơ của ông trong “Việt âm thi tập”. Có bài được ông sáng tác trên đường đi chinh chiến, có bài nói về lịch sử, đạo Thiền. Ông là tác giả của những bài thơ tả cảnh như "Vân tiêu am", "Đông Sơn tự". Ông có làm một tập thơ “Thủy vân tùy bút”, nhưng đến lúc sắp mất đem đốt đi, không cho để lại.

Sử chép rằng, năm 1320, khi Anh Tông đau nặng, hoàng hậu cho đi gọi thầy tăng về để làm lễ xem sự sinh tử, Anh Tông gạt đi mà bảo rằng: "Thầy tăng đã chết đâu mà biết được sự chết". Sau đó ông qua đời, hưởng thọ 47 tuổi. 



Còn tiếp…

Phạm Ngọc Dương
Chủ đề:
Bình luận

TIN TỨC NÊN ĐỌC

Báo Điện tử VTC News