Da
đỏ, trán cao, tóc màu sợi đay buông xuôi đến tận vai, vẻ đẹp lão của Hoàng Cát
khiến người ta nghĩ đến hình ảnh một tiên ông hồn hậu hoặc là một đạo sĩ đang
thong dong, thư thái với cảnh đời.

Căn nhà nhỏ hút trong ngõ, tuy
không sâu nhưng cũng cách biệt được với tiếng xe cộ ồn ào. Mở cổng đón tôi là một
phụ nữ phúc hậu, tươi cười. Nghe tiếng tôi chào, Hoàng Cát đang lọet quẹt quét
sân cũng gọi với ra: “Hương phải không! Vô đây mi!”. Tôi đáng tuổi con cháu của
Hoàng Cát nhưng cách gọi trìu mến, mộc mạc của xứ Nghệ đó khiến tôi bật cười,
vui vui, ấm lòng.
Hoàng Cát tất tả rửa tay rồi dẫn
tôi lên gác hai. Bên cầu thang bắc lên phòng văn của Hoàng Cát là một cây khế
xanh tươi, tỏa bóng râm mát. Những chùm khế vàng ươm, to hơn nắm tay, ngon mắt
lạ lùng. Trong căn phòng chật chội, chật chội như chính chỗ của cuộc đời dành
cho Hoàng Cát, thứ nhiều nhất chính là sách. Một tủ sách cao choán gần hết diện
tích của phòng. Ở chiếc bàn nhỏ là quyển kinh Phật, đang đọc dở. Trên tường là
những bức ảnh của Hoàng Cát trong mỗi thời kỳ khác nhau, đặc biệt là tấm ảnh chụm
đầu chụp chung với nhà thơ Xuân. Tôi tò mò trước những hòn đá nhăn nheo, già
nua đủ kích cỡ, hình dáng được Hoàng Cát cất giữ rất kỹ trong tủ kính. “Đó là
những chứng tích, những kỷ vật của mỗi miền đất đã đi qua, mình giữ lại, thỉnh
thoảng nhìn để nhớ và nhớ lại nhìn”- Hoàng Cát cười khà khà.
Đã bao nhiêu năm trôi qua, thi sĩ
già vẫn giữ được nụ cười tươi và giọng nói sang sảng như chưa hề có đau khổ,
gian nan. Khác hẳn với cái nóng gay gắt 43 độ ngoài kia, dù không rộng rãi
nhưng bước chân vào căn phòng đó, tôi vẫn tìm thấy cảm giác thư thái, mát mẻ giữa
không gian yên tĩnh và dìu dịu mùi hương tinh dầu hoa nhài.
“Trái
tim tôi là một nấm mồ…”
Nếu chỉ nhìn dáng đi thì không ai
nghĩ Hoàng Cát đang đeo chân giả. Bởi bước chân của ông luôn ngay ngắn, đàng
hoàng, không hề khập khiễng một chút nào. Những ngày sau Tết Kỷ Dậu 1969, Hoàng
Cát làm đội trưởng, dẫn một tổ quân khí của Đoàn 4 vào cánh bắc Quảng Nam để học
cách chế tạo mìn bay. Học xong, định trở về thì bất ngờ địch rải bom B52 trúng
công xưởng. Đó là trưa mồng hai Tết Kỷ Dậu. Chàng thi sĩ bị hất tung lên rồi
rơi xuống một sườn đồi. Chân trái anh nát như một cái... bắp cải dập. Từ đó,
nhà thơ tự nhủ với lòng mình:
Không chân thật thì đi bằng chân giả
Miễn trong tim là thật máu của mình
(Thân
con kiến)
Nói về cái chân giả, nhà thơ
Vương Trọng- bạn rất thân của Hoàng Cát từng kể: hồi ở chiến trường, cứ mỗi lần
đi ngủ hoặc có bom dội là thi sĩ thương binh lại phải tháo ra lắp vào cái chân
trái của mình rất vất vả. Có khi bom đạn vãi khắp nơi mà người vẫn chưa lắp
xong chân, đồng đội đành cắt cử người cầm hộ chân giả, hai người cõng nhà thơ
đi tránh bom. Phiền hà quá, bận sau, Hoàng Cát không tháo chân nữa mà cứ thế,
cà nhắc chạy tới chạy lui, mỗi lần máy bay địch bốc cháy thì hò hét rất hăng:
“Sớm mai đi ăn sáng nhé!”
Cũng chuyện cái chân giả đấy, sau
này, trong một lần về thăm lại chiến trường, lúc đến Huế, có một đối tượng nói
xấu cách mạng, sẵn ngứa tai ngứa mắt, Hoàng Cát rút luôn... chân giả ra ném vào
mặt gã vô lại. Khi bị xúc phạm đến lý tưởng mà thế hệ mình và cả dân tộc mình
đã phải đánh đổi xương máu mới có được, Hoàng Cát không thể kìm nổi cơn tức giận.
Chiếc chân văng ra, gãy mất. Sau này, bạn bè lại tài trợ cho ông một chiếc chân
giả khác nhưng cũng từ đó Hoàng Cát có thêm biệt danh mới: “lão gàn xứ Nghệ”
Trở về sau những trận đánh, Hoàng
Cát để lại chân trái ở chiến trường, tay trái cũng bị mảnh bom làm khuyết thành
một vệt sẹo lớn. Và trong hộp sọ kia vẫn còn nguyên một mảnh đạn, để mỗi bận
trái gió trở trời, vết thương quằn lên nhức nhối.
Trị Thiên Huế là địa bàn tác chiến
của Hoàng Cát thời binh lửa. Sau chiến tranh, ông sống và viết ở Hà Nội, nhưng
vẫn yêu Trị Thiên Huế như chính quê hương mình, những tên đất tên người luôn
ghi khắc vào tâm khảm và nỗi nhớ của nhà thơ.
Trái tim tôi là một nấm mồ…
Tôi đã chôn cất biết bao bè bạn
Giữa trái tim tôi, giữa tuổỉ trẻ đời tôi…
(Trái
tim tôi là một nấm mồ)

Những ngày tháng khốc liệt ấy,
Hoàng Cát cùng đồng đội sống trong những căn hầm chật chội đến nỗi không đủ duỗi
chân tay, nhiều bữa ăn chỉ có lá cây rừng. Thỉnh thoảng ông lại về thăm chiến
trường năm xưa, và gọi đó là những chuyến “về nguồn”.
Thật đây rồi ư? Chiến địa năm xưa
Những Quảng Thái, Phong Chương, Triều Dương, Cao Xá
Những Quảng Thọ, Quảng Hòa, Phù Lai Cà, Hiền Lương, An Lỗ
Thức dậy trong ta cả trời thương nhớ
Cả tuổi thanh xuân hăm hở sống- quên mình!
Ngày trước còn khoẻ, năm nào
Hoàng Cát cũng về, có năm về hai, ba lần. Bây giờ, tuổi tác, bệnh tật chỉ cho
phép ông tìm về nơi ấy trong nỗi nhớ của một thời hoa lửa.
Như
hoa trên nhánh xương rồng ấy…
Và cũng lại chiếc chân giả đã “cứu”
Hoàng Cát khỏi án đi tù. Chuyện là, vào những năm 1970, sau khi truyện ngắn thiếu
nhi “Cây táo ông Lành” của ông được đăng trên báo Văn Nghệ thì bị coi là “có vấn
đề” về tư tưởng qua ẩn dụ nghệ thuật. Hoàng Cát bị “treo bút” hơn 20 năm, tất cả
các tòa soạn đều từ chối, cơ quan cho nghỉ mất sức ở tuổi 37, phải đến thời kỳ
đổi mới tư duy, tên tuổi của ông mới được phục hồi.
Người lính chiến trở về, bỏ lại một
phần thân thể ở chiến trường, ngồi tựa gốc nhãn hoang kiếm sống. Nhà thơ thương
binh từng phải sắm chiếc xe đẩy, ấm nước chè xanh và cái phích, ra ngồi vỉa hè.
Một chén nước năm xu, mười chén năm hào, có khi cả buổi không bán nổi mười
chén. Ngồi một chỗ thì bị công an phường truy đuổi, đành dong dong đẩy xe đi khắp
tận cùng ngõ phố. Sáng đẩy xe đi, tối đẩy về, trưa ngồi nhai cái bánh mỳ, thế
là xong bữa. Lãi chẳng đủ tiền đong gạo, có người lại mách cho Hoàng Cát cách
làm bóng bì, nem chạo. Mờ sáng, thi sĩ xứ Nghệ đạp xe đến các lò mổ đi mua bì lợn.
Không có nhiều tiền nên ông chỉ mua được những miếng “đầu thừa đuôi thẹo”, nhỏ
thó và nhiều lông. Về nhà lại lấy díp hì hụi cả buổi chiều để làm sạch lông, chọn
miếng “được” nhất thì để phơi khô, cất kỹ cuối năm làm bóng bì bán dịp Tết. Còn
lại để thái chỉ làm nem chạo. Trong một bài thơ tặng vợ, anh viết:
Mười bảy năm ta chưa đi đến Nhà hát lớn
Nhưng đã trải qua mười bảy nghề mặn nhạt có nhau.
Hết dán hộp đựng thuốc cho ngành
dược, cuốn thuốc lá điếu rồi đi bỏ cho các quán nước, rang đậu phộng, bán nước
chè, phong thuốc lào, làm bóng bì, nem chạo đến nuôi gà công nghiệp, úm gà con
giống, nuôi chó ta, chó Nhật, nuôi chim vẹt cảnh, làm lồng chim, bán kem mút,
nuôi lợn... không biết bao nhiều ngày tháng cơ cực đã trôi qua như thế.
Vật lộn với miếng cơm, manh áo
nhưng chưa bao giờ Hoàng Cát hờ hững, bỏ rơi nàng thơ. Thơ như chiếc nạng vững
chắc để ông chống vào mà đứng dậy, mà sống trọn vẹn và bao dung bằng một niềm
tin mãnh liệt với đời. Thơ hồn nhiên, vùng vẫy trong tim. Thơ ào ạt, trào tuôn
bất kể vui buồn. Đẩy xe bán dạo nước chè, lẩm nhẩm đọc thơ. Ngồi nhổ lông bì lợn
hay đạp xe đi mua bì, thính gạo, lá chanh… cũng thành thơ, thành chữ.
Túp lều nát ẩn bên bờ dứa dại
Đống rác to che một phía gió lùa
Cây nhãn hoang còm nhom cho ta ngồi tựa gốc
Suốt bao năm trời gội nắng chan mưa
(Cảm
ơn vỉa hè)
Rồi những câu thơ dứt ruột ấy
cũng được gom lại thành tập thơ Tháng Giêng dai dẳng, ra mắt bạn đọc nhờ sự
“tài trợ” của nem chạo, bóng bì. Tập thơ mỏng, in xấu, nhưng đọc xong ai cũng
phải ngậm ngùi. Hội bạn thơ cứ rủ rỉ đùa nhau: chưa một nhà văn xứ Nghệ nào có
được khoản nhuận bút to như Hoàng Cát. Số là, bà mẹ vợ đọc xong tập thơ, đêm
đêm nằm khóc một mình, sớm mai đã gọi con gái và con rể đến cho mấy cây vàng để
sửa sang nhà cửa và cải thiện cuộc sống.

Thì
hãy sống như đời xui ta sống
Đã bước sang mùa xuân thứ 69. Một
nhà thơ thương binh tàn tật không có lương hưu, không tiền thương tật, không có
bảo hiểm xã hội nhưng vẫn yêu đời, yêu thơ và cứ sống hồn nhiên như tự thuở
nào:
Tôi thanh thoát như là không- có- thật
Như là tôi đã ngự ở Thiên- đàng
Như là tôi đang tọa cõi Niết- bàn
Tôi sung sướng như là không- tôi- nữa!
Có lẽ, chưa gặp nghệ sĩ nào mà
tôi thấy vui như khi đến nhà Hoàng Cát. Vui vì cách nói chuyện bỗ bã, chân thật.
Vui vì cả buổi được nghe và trò chuyện với một nghệ sĩ bằng chính chất giọng địa
phương của quê hương mình. Chả thế mà lúc gọi điện hẹn phỏng vấn, biết tôi cũng
là người Nghệ, Hoàng Cát phấn khởi “Đồng hương hả con, rứa mi đến đi, bác tặng
mi quyển Tuyển tập” rồi cười hề hề.
Hì hụi mãi rồi Hoàng Cát cũng tự
làm cho mình được quyển Tuyển tập. Không có mạnh thường quân nào cả, chỉ nhờ vợ,
nhờ bạn bè và tiền nhuận bút bao năm ki cóp. Ông rút trong tủ kính ra quyển Tuyển
tập mới cóng, phẳng phiu, cẩn thận lấy bút hý hoáy ký tặng tôi. Nhìn nụ cười
mãn nguyện trên gương mặt, tôi hiểu giờ thi sĩ già đã bình yên, thanh thản thật
rồi. Hoàng Cát bảo, tự làm Tuyển tập có cái thú là không ai hiểu mình bằng
chính mình. Được lựa chọn những cái mình thích và loại bỏ những cái không hợp
lý. Cũng giống như với người ăn được mắm tôm thì thấy ngon còn không ăn được mà
cố ép thì đúng là cực hình.
Không chỉ riêng tôi mà đã nhiều
người tự hỏi, sao một nhà thơ hễ viết ra là buồn như Hoàng Cát, buồn đến khóc
được trên từng câu thơ ấy, mà khi gặp nói chuyện lại vui vẻ yêu đời đến nhường
này. Phải chăng, với Hoàng Cát, đời chỉ là một cõi tạm, để sống hết yêu thương
và chân thành tự đáy lòng mình.
Thơ Hoàng Cát có thể không sắc sảo,
câu chữ cũng không độc nhưng lại thấm đẫm cái tình mênh mang, chân thật. Người
ta vẫn bảo “Thơ là lời tự thú của tâm hồn”. Không cầu kỳ rối rắm chữ nghĩa,
không uốn éo lượn lời, thơ Hoàng Cát giản dị như chính con người ông. Đọc những
vần thơ ấy, có cảm tưởng như đang ngồi cùng thi nhân thủ thỉ chuyện trò, hoặc lắng
nghe lời độc thoại từ trái tim nồng ấm tình yêu thương.
Dù đã già nhưng Hoàng Cát vẫn
“chơi sang”, vẫn “pờ-rồ” khi chịu khó tập tành sử dụng internet và trở thành một
trong những blogger thơ sôi nổi, trẻ trung được nhiều người yêu mến trên cộng đồng
mạng. Sáng sáng, lại lướt web vèo vèo để “úp-đết” thông tin. Hoàng Cát cười bảo,
giờ đã quen sáng tác trên máy tính, nghĩ cái cảnh lọ mọ ngồi viết ra giấy cảm
xúc của mình như ngày xưa lại thấy ngại.
Góc tường trong phòng văn của
Hoàng Cát luôn dựng sẵn một bàn cờ. Hoàng Cát thích chơi cờ tướng và thỉnh thoảng
có những nước cờ xuất thần, nhưng thường để mất quân vô cớ. Khi ngồi chơi cờ,
miệng ông nói liên tục, khi thì mấy câu tiếng Pháp, khi thì dăm câu đặc sệt tiếng
Nghệ để gây cười và trêu chọc đối phương. Hoàng Cát coi cờ tướng là nơi gặp gỡ
bạn bè, nơi giải sầu giải cảm chứ không hề để ý đến kết quả cuộc chơi. Chính vì
thế, không thứ bảy, chủ nhật nào mà nhà ông không nhộn nhịp bạn cờ, bạn thơ.
Đang nhắc đến bạn bè thì chuông
điện thoại réo, liếc thấy số người quen, Hoàng Cát kêu lên “Giờ ni là bọn nớ gọi
đi nhậu đây, nhọc lắm!” rồi cứ thế, để nguyên máy, không dám nghe. Nếu như dạo
trước là đã tức tốc vớ cái quần dài rồi í ới “Bây ở mô, tau ra” nhưng hồi này,
Hoàng Cát đã biết học cách… trốn. Sau trận đột quỵ năm 2005 và căn bệnh nhồi
máu cơ tim đeo bám, giờ bên người Hoàng Cát luôn mang theo thuốc và tự nhắc
mình uống thuốc đều đặn theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Tuy nhiên, phần lớn bạn bè đều có
chung nhận xét: Hoàng Cát là người sống hết mình, không coi trọng tiền bạc
nhưng lắm khi coi thường cả mạng sống của mình. Mặc dù đời đến nhường này. Phải
chăng, với Hoàng Cát, đời chỉ là một cõi tạm, để sống hết yêu thương và chân
thành tự đáy lòng mình.
Thơ Hoàng Cát có thể không sắc sảo,
câu chữ cũng không độc nhưng lại thấm đẫm cái tình mênh mang, chân thật. Người
ta vẫn bảo “Thơ là lời tự thú của tâm hồn”. Không cầu kỳ rối rắm chữ nghĩa,
không uốn éo lượn lời, thơ Hoàng Cát giản dị như chính con người ông. Đọc những
vần thơ ấy, có cảm tưởng như đang ngồi cùng thi nhân thủ thỉ chuyện trò, hoặc lắng
nghe lời độc thoại từ trái tim nồng ấm tình yêu thương.
Dù đã già nhưng Hoàng Cát vẫn
“chơi sang”, vẫn “pờ-rồ” khi chịu khó tập tành sử dụng internet và trở thành một
trong những blogger thơ sôi nổi, trẻ trung được nhiều người yêu mến trên cộng đồng
mạng. Sáng sáng, lại lướt web vèo vèo để “úp-đết” thông tin. Hoàng Cát cười bảo,
giờ đã quen sáng tác trên máy tính, nghĩ cái cảnh lọ mọ ngồi viết ra giấy cảm
xúc của mình như ngày xưa lại thấy ngại.
Góc tường trong phòng văn của
Hoàng Cát luôn dựng sẵn một bàn cờ. Hoàng Cát thích chơi cờ tướng và thỉnh thoảng
có những nước cờ xuất thần, nhưng thường để mất quân vô cớ. Khi ngồi chơi cờ,
miệng ông nói liên tục, khi thì mấy câu tiếng Pháp, khi thì dăm câu đặc sệt tiếng
Nghệ để gây cười và trêu chọc đối phương. Hoàng Cát coi cờ tướng là nơi gặp gỡ
bạn bè, nơi giải sầu giải cảm chứ không hề để ý đến kết quả cuộc chơi. Chính vì
thế, không thứ bảy, chủ nhật nào mà nhà ông không nhộn nhịp bạn cờ, bạn thơ.
Đang nhắc đến bạn bè thì chuông
điện thoại réo, liếc thấy số người quen, Hoàng Cát kêu lên “Giờ ni là bọn nớ gọi
đi nhậu đây, nhọc lắm!” rồi cứ thế, để nguyên máy, không dám nghe. Nếu như dạo
trước là đã tức tốc vớ cái quần dài rồi í ới “Bây ở mô, tau ra” nhưng hồi này,
Hoàng Cát đã biết học cách… trốn. Sau trận đột quỵ năm 2005 và căn bệnh nhồi
máu cơ tim đeo bám, giờ bên người Hoàng Cát luôn mang theo thuốc và tự nhắc
mình uống thuốc đều đặn theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Tuy nhiên, phần lớn bạn bè đều có
chung nhận xét: Hoàng Cát là người sống hết mình, không coi trọng tiền bạc
nhưng lắm khi coi thường cả mạng sống của mình. Mặc dù “tim bong, chân chắp”,
nhưng đã lên xe máy là phóng như bay, thanh niên phải nể. Bởi vậy chuyện ông
ngã xe, bất tỉnh dọc đường không phải là hiếm. Có lẽ, cái tuổi Nhâm Ngọ khó mà
ngồi yên một chỗ. Hồi giáp tết Mậu Tý 2008, Hoàng Cát bị tai nạn xe máy, cấp cứu
ở bệnh viện Bạch Mai. Tỉnh dậy, mặt mày vẫn còn xây xát, ông ân hận làm thơ
thương vợ vì mình mà khổ, tự nguyện để con giấu chìa khóa xe, hứa không bao giờ
dùng đến. Nhưng khi vết thương lành, đâu lại vào đấy, thậm chí còn ngông hơn:
Vẫn bít rít quần “gin”, phông cộc
Mặc kệ trên đầu rợp trắng mây trôi...

Một buổi sáng bình yên, những con
chim sâu lích chích trên cành khế, bầu trời trong xanh, không gian yên tĩnh,
phòng văn bề bộn sách vở, những bài thơ vừa mới viết xong và những câu thơ đang
thao thức trong tâm tưởng... Hoàng Cát bất chợt thấy mình hạnh phúc, và ông cảm
thấy nao lòng khi nghĩ đến những người không có được hạnh phúc như ông. Con người
biết cảm nhận hạnh phúc trong từng khoảnh khắc của cuộc sống là con người rất gần
với cách sống của Phật.
Hay cười là thế nhưng Hoàng Cát
cũng dễ bật khóc. Khóc khi buồn, khi bế tắc, khóc khi gặp lại bạn và khóc cả
lúc đọc thơ. Thi sĩ bảo, bưng mặt khóc được cũng tốt, cho nó chảy hết những buồn
đau trong cuộc đời, rửa trôi những bụi bẩn trong lòng.
Dung mạo già hơn so với tuổi, chứ
thực ra, Hoàng Cát còn trẻ lắm, đặc biệt là tâm hồn nhạy cảm với cái đẹp và
phái đẹp. Nhà thơ Vương Trọng kể lại, cứ sau mỗi chuyến đi công tác xa là Hoàng
Cát lại có một loạt bài thơ tình để tặng những người phụ nữ vừa mới quen với
nhiều đau khổ, dằn vặt. Tự biện hộ cho mình “là lửa nên phải cháy”, Hoàng Cát cứ
sống hồn nhiên với thơ, với đời. Thế nên, đứng xa vài chục mét mà nghe Hoàng
Cát rù rì điện thoại di động thì cũng dễ dàng đoán ra là đang nói chuyện với
đàn ông hay đàn bà.
“Có thể ví tình yêu của người mới
yêu là sức nóng của hòn than rực lửa, nên nó mãnh liệt hơn. Còn tình yêu của
người “thất thập cổ lai hy” là sức nóng của những đám tro âm ỉ còn sót lại”-
thi sĩ hóm hỉnh ví von. Xưa Xuân Diệu - người anh, người thầy, người bị dị nghị
có tình cảm đặc biệt với Hoàng Cát đã làm mấy câu thơ:
Một tấm lòng em sâu biết bao
Để anh thương mãi, biết làm sao!
Em đi xa cách, em ơi Cát
Em chớ buồn, nghe! Anh nhớ, yêu..."
(Em
đi)
Hoàng Cát kể đó là bài thơ Xuân
Diệu tặng ông khi ông đi B. Nhiều người bảo đó là một bài thơ tình. Hoàng Cát
cũng không bao giờ phủ nhận. Nay, mỗi lần nhắc đến Xuân Diệu, Hoàng Cát lại bần
thần. Tận sâu thẳm trong lòng, ông rất thương Xuân Diệu, đó không phải là tình
yêu mà như tình tri kỷ, tri âm.
Cái chết đã trở thành một ám ảnh,
một triết lý trong Hoàng Cát. Ông nói về cái chết thấm thía lắm, bởi ít ai đối
mặt với cái chết nhiều như ông. Trong chiến tranh cái chết kề sát bên đã đành,
15 năm nghi án cũng là chết theo một cách nào đó, và khi được viết trở lại, cuộc
sống thoải mái hơn thì căn bệnh tim lại mọc lên trong người, chực cướp đi sinh
mạng bất cứ lúc nào... Mỗi buổi sáng thức dậy, Hoàng Cát vẫn tự hỏi mình: sao
đêm qua mình nằm ngủ mà không chết, rồi ngạc nhiên tuyên bố: Tôi chưa chết, đấy
mới là chuyện lạ.
Hoàng Cát không buồn, thi sĩ đã
chuẩn bị cho mình một cuộc ra đi bình yên. Còn trong phút giây hiện tại này,
Hoàng Cát chỉ biết yêu thắt lòng cuộc sống. Thơ ông chẳng mấy khi vui mà thường
là những nỗi buồn. Nhưng không phải nỗi buồn buông xuôi mà đó là khát vọng sống.
Cũng như khi người ta nói về cái chết cũng là vì quá yêu cuộc sống mà nói vậy.
Chết làm cho sự sống có giá trị hơn. Nó hối thúc con người hãy sống sao cho lúc
chết đi được thanh thản.
… Chia tay ra về, tôi vẫn nhớ mãi
nụ cười của đôi vợ chồng già liêu xiêu bên cây khế, vẫy vẫy bàn tay tạm biệt.
Người đàn ông tóc bạc trắng, ngửa cổ cười khơ khơ với đời. Người phụ nữ dáng
lam lũ, nụ cười hiền lành bên chồng, sẵn sàng san sẻ bao nhiêu cực nhọc, cơ
hàn. Càng ngẫm lại thấy đúng, yêu một người đàn ông đã khó, yêu và làm vợ một
nhà thơ còn khó vạn lần… Vượt qua những tháng ngày vất vả, đôi bồ câu già vẫn tựa
đầu bên nhau, gù lên những thanh âm trong trẻo. Bên hiên nhà, cây khế rủ bóng
kín vuông sân…
- Hoàng Cát sinh năm 1942 tại Nam Lạc, Nam
Đàn, Nghệ An
- Tốt nghiệp loại giỏi trường Trung Kỹ thuật
Trung Cao Cơ điện Hà Nội, công tác tại Nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo.
- Từ 1965- 1971 vào bộ đội, trực tiếp tham gia
chiến đấu tại mặt trận miền Nam, chủ yếu là Thừa Thiên- Huế, bị thương năm 1969
- CÁC TẬP THƠ ĐÃ XUẤT BẢN:
Tháng
giêng dai dẳng: Nxb Văn Hóa 1991
Ngôi
sao biếc: Nxb Văn Học 1994
Mùa
thu- tình yêu- cuộc đời: Nxb Hội Nhà văn 1999
Thì
hãy sống: Nxb Thanh Niên 2002
Cảm
ơn vỉa hè: Nxb Hội Nhà văn 2006
Thanh
thản: Nxb Hội Nhà văn 2008
Chuyện
tình của xin: Tập truyện, Nxb Thanh niên 2005
Tuyển tập Thơ Hoàng Cát- Nxb Hội Nhà văn 2009
Ảnh: Hồ Quang
- Tu tiên ở Mường Chậm(22/07/2010 11:45)
- GS. Tôn Thất Triêm: Nốt lặng dịu dàng(14/07/2010 16:59)
- Có một chị "Thanh Tâm" ở VTC1(14/07/2010 16:55)
- Những lát cắt về "Xoài Xanh"(14/07/2010 16:50)
- Cuộc gặp kín giữa các nhà báo và chàng Đông Ki Sốt(25/06/2010 12:08)
- HAI TAY HAI – BA – BỐN… “SÚNG”(27/06/2010 10:58)
- Chuyện phiếm với ông chủ chiếu rượu Quê choa(26/06/2010 10:42)
- NHÀ BÁO VÀ NICKNAME BALOONTOONG(23/06/2010 16:48)
- "Ấn tượng nhất về Cannes là sự chuyên nghiệp"(23/06/2010 16:36)
- BTV- MC Mạnh Tùng "Quái nhân" đa tài(23/06/2010 16:21)



Print
Email



