Hội chứng ngưng thở khi ngủ cực kỳ nguy hiểm, người béo phì nên biết

Hội chứng ngưng thở khi ngủ hay còn gọi là hội chứng giảm thông khí do béo phì, béo phì trầm trọng gây khó khăn cho việc mở rộng phổi, khiến bệnh nhân không thể thở đủ sâu để có đủ oxy, gây ngừng thở khi ngủ.

 Các triệu chứng

Buồn ngủ quá nhiều vào ban ngày, tăng nguy cơ mắc tai nạn hoặc sai lầm trong công việc, trầm cảm, khó thở, mệt mỏi, chân sưng.

Hầu hết những người bị hội chứng béo phì giảm thông khí có đồng thời nghẽn ngưng thở khi ngủ, đặc trưng bởi ngáy, ngừng thở trong đêm, giấc ngủ bị gián đoạn và buồn ngủ ban ngày quá mức. Buồn ngủ do nồng độ trong máu cao của khí carbon dioxide, gây buồn ngủ.

Các triệu chứng khác có mặt trong cả hai điều kiện là trầm cảm, và tăng huyết áp (huyết áp cao), là khó khăn để kiểm soát bằng thuốc. Carbon dioxide cao cũng có thể gây đau đầu, có xu hướng đau đầu nhiều hơn vào buổi sáng.

hoi_chung_ngung_tho_khi_ngu_1

 Hội chứng này đặc trưng bởi ngáy

Mức độ oxy thấp dẫn đến căng thẳng quá mức về phía bên phải của tim, được gọi là cor pulmonale. Các triệu chứng của rối loạn này xảy ra bởi vì tim khó bơm máu ra khỏi cơ thể qua phổi.

Do đó máu có thể tích tụ trong chân và làm phù chân, và trong khoang bụng dưới hình thức cổ trướng; đau ngực khi gắng sức có thể xảy ra. Khám thực thể, sẽ phát hiện đặc trưng là tăng áp lực tĩnh mạch cảnh, có tiếng thổi tim do máu bị rò rỉ qua van ba lá, gan lớn, cổ trướng và phù chân.

Chẩn đoán

hoi_chung_ngung_tho_khi_ngu_2

Giảm thông khí 

Hỏi bệnh sử và khám thực thể. Các xét nghiệm để xác định rối loạn bao gồm: nghiên cứu giấc ngủ, chức năng phổi, khí máu động mạch. Xét nghiệm công thức máu toàn bộ (CBC), bảng chuyển hóa toàn diện (CMP), điện tâm đồ (EKG), Troponin và chụp X-quang.

Lâm sàng:

- Tăng PaCO2 ban ngày: mệt mỏi, nhức đầu buổi sáng.

- Tâm phế và suy tim (P).

- Cận lâm sàng:

- Tăng PaCO2 trong khi thức >45mmHg.

- Giảm O2 trong khi thức và ngủ: SaO2 < 90%.

- Tăng PaCO2 trong lúc ngủ >10mmHg.

- Toan hô hấp trong lúc ngủ: pH<7,3.

- Mất bảo hòa HbO2 kéo dài ban đêm.

- Polysomnography có OSA hay giảm thông khí.

Điều trị

hoi_chung_ngung_tho_khi_ngu_3

Việc điều trị quan trọng nhất là giảm trọng lượng 

Điều trị bao gồm cải thiện khả năng thở và các tùy chọn bao gồm: thở oxy, thở máy không xâm lấn (BiPAP hay CPAP), giảm cân.

Việc điều trị quan trọng nhất là giảm trọng lượng bằng chế độ ăn uống, tập thể dục, dùng thuốc… giảm cân. Điều này đã được chứng minh để cải thiện các triệu chứng của hội chứng ngưng thở khi ngủ và giảm nồng độ carbon dioxide cao. Giảm cân có thể mất một thời gian dài và không phải lúc nào cũng thành công. Một số loại thuốc đã được thử nghiệm để kích thích hô hấp.

Trong khi nhiều người bị hội chứng béo phì giảm thông khí được chăm sóc trên cơ sở ngoại trú, một số xấu đi đột ngột và khi nhập viện có thể có triệu chứng bất thường nghiêm trọng như tăng axít máu (pH <7.25) hoặc giảm mức độ ý thức do mức carbon dioxide rất cao. Khi cần thiết nên nhập viện vào một đơn vị chăm sóc đặc biệt để đặt nội khí quản và thở máy.

images

 Dùng các thiết bị trợ thở. Ảnh: minh họa.

Phương pháp áp lực đường thở dương: thở áp lực dương, ban đầu ở các hình thức áp lực đường thở dương liên tục (CPAP), là một điều trị hữu ích cho hội chứng béo phì giảm thông khí, đặc biệt là khi ngủ do tắc nghẽn ngưng thở cùng tồn tại.

CPAP yêu cầu sử dụng trong thời gian ngủ, máy mang lại một áp lực dương liên tục đến đường hô hấp và ngăn chặn sự sụp đổ của mô mềm trong cổ họng khi hít; được thực hiện thông qua một mặt nạ đặt trên cả miệng và mũi lại, hoặc chỉ mũi (mũi CPAP). Điều này làm giảm tắc nghẽn ngưng thở khi ngủ, và thường là đủ để loại bỏ sự tích tụ kết quả của khí carbon dioxide.

Áp lực được tăng lên cho đến khi các triệu chứng tắc nghẽn (ngáy và thời gian ngưng thở) đã biến mất. CPAP có hiệu quả trong hơn 50% những người bị ngưng thở lúc ngủ.

Trong một số trường hợp, mức độ oxy thấp kéo dài (độ bão hòa oxy dưới 90%). Trong trường hợp đó, giảm thông khí tự nó có thể được cải thiện bằng cách chuyển từ điều trị CPAP vào một thiết bị thay thế mà cung cấp “hai mức” áp lực dương: áp lực cao trong hít vào và áp suất thấp hơn trong thở ra. 

Nếu điều này là quá không hiệu quả trong việc tăng nồng độ oxy, bổ sung các điều trị oxy có thể là cần thiết.

Bình luận