• Zalo

VTC 14 trải nghiệm cuộc sống của "Người rừng"

Tổng hợp Thứ Hai, 16/09/2013 03:17:00 +07:00

“Chúng tôi ăn rau rừng. Chúng tôi uống nước suối. Chúng tôi ngủ chung với muỗi và vắt… Ở đó, “điện” là thứ ánh sáng mờ ảo phát ra từ nhựa vỏ cây.

“Chúng tôi ăn rau rừng. Chúng tôi uống nước suối. Chúng tôi ngủ chung với muỗi và vắt… Ở đó, “điện” là thứ ánh sáng mờ ảo phát ra từ nhựa vỏ cây. Nên ở đó, tất nhiên, cũng chẳng có internet hay facebook, twitter… Và ngạc nhiên là chúng tôi vẫn sống khỏe sống tốt dù nơi rừng xanh đại ngàn ấy chẳng có những thứ vật chất mà trước đây chúng tôi vẫn nghĩ nếu thiếu đi, mình sẽ chết”- BTV Lưu Phước kể lại.

 Căn bếp của cha con người rừng

Trăn trở
Đầu tháng 8, đang quay cuồng với những chương trình, bản tin về bão số 6 thì tôi nhận được tin báo từ Đài PT-TH Quảng Ngãi là tìm thấy người rừng. Tôi thực sự thấy thích thú và bị cuốn hút bởi thông tin này. Ngay sau đó, đồng lọat các báo đài cũng đã đưa tin. Thậm chí, truyền thông quốc tế cũng đã đăng lại câu chuyện tìm thấy người rừng ở Việt Nam. Tuy nhiên, phần lớn các bài báo đều khai thác dưới góc độ một câu chuyện lạ. Điều này khiến tôi cảm thấy băn khoăn, đặc biệt là trước những tít báo “giải cứu người rừng”. Liệu có thực sự chúng ta đang “cứu” họ không? Điều đó có nên làm không? Họ đã sống trong rừng như thế nào trong suốt 40 năm?... 

Với những băn khoăn đó, tôi đã thực hiện ngay một cuộc trao đổi với Tiến sĩ xã hội học Đỗ Thị Vân Anh trong bản tin Cuộc sống 24h. Bản tin phát sóng vào sáng thứ 7 và chỉ sau một ngày được đăng tải trên Youtube, cuộc trò chuyện này đã nhận được hơn 1000 lượt views và được rất nhiều người chia sẻ, đăng lại trên cộng đồng mạng. Lúc này, tôi mới nhận thấy, hóa ra những điều mình trăn trở cũng chính là vấn đề mà rất nhiều người đang quan tâm. 
Sau một đêm suy nghĩ, tôi quyết định: phải vào Quảng Ngãi một chuyến. Và tất nhiên, phải rủ bằng được “cạ cứng” là quay phim Đức Cường cùng đi. Hai anh em cũng không ngờ, ý định này lại được lãnh đạo kênh ủng hộ rất nhiệt tình. Thậm chí, sếp còn rỉ tai: “Hay là hai chú thử vào rừng xem sao!”. Cường thì có vẻ phấn khởi vì đã quá quen những chuyến đi rừng, còn tôi thì dù gật đầu nhưng vẫn không khỏi lo lắng vì chưa bao giờ vào rừng sâu làm chương trình. “Được đà”, sếp lại tiếp tục gợi ý: “Hay là hai chú ngủ lại một đêm trong rừng xem thế nào!”. Đến lúc này thì tôi thực sự… hoảng. Nhưng cuối cùng, nghĩ rằng hai cha con người rừng sống được thì chắc mình cũng… “không đến nỗi nào” nên tôi lại vui vẻ đồng ý. 

 

Để chuẩn bị cho “sự kiện trọng đại” ngủ đêm trong rừng, tôi và Cường tất bật đi mua túi ngủ, giày đi rừng… Lại còn được sếp “dỗ dành” bằng một bịch lương khô Mỹ, chuyên dùng cho lính hải quân mà chỉ cần một mẩu bằng ba đốt ngón tay thôi là đã đủ dinh dưỡng cho cả một bữa ăn. 
Sáng sớm thứ 3, hai anh em lên đường. Một chuyến đi khá bất ngờ và vội vã. Để tiết kiệm thời gian, chúng tôi quyết định bay vào Đà Nẵng rồi sẽ từ Đà Nẵng đi xe vào Quảng Ngãi. May mắn cho nhóm là được văn phòng đại diện của VTC tại Đà Nẵng giúp đỡ nhiệt tình về phương tiện đi vào Quảng Ngãi. Sáng thứ 4, phải mất 5 tiếng đồng hồ ngồi trên xe, chúng tôi mới đến được huyện Tây Trà, một huyện miền núi ở xa nhất của tỉnh Quảng Ngãi. Khi chúng tôi có mặt ở đây thì sự kiện tìm thấy hai cha con người rừng cũng đã diễn ra được một tuần, có khá nhiều báo đài đã đến đây tác nghiệp. Nhưng tôi vẫn rất tự tin vào ý tưởng riêng của mình. 
Phóng sự lần này sẽ phục vụ cho chương trình “Cận cảnh” phát sóng vào thứ 2 tuần tới nên chúng tôi có rất ít thời gian lưu lại nơi đây. Sáng thứ 7, chúng tôi đã phải quay ra Đà Nẵng, thế nên chỉ có 3 ngày để tác nghiệp ở huyện và vào rừng. Hai anh em tận dụng từng giờ từng phút, đôi lúc không thiết cả ăn uống. Đây cũng là chuyến đi hiếm hoi mà chúng tôi quyết định mang theo rất nhiều thiết bị phục vụ cho việc ghi hình bao gồm: 1 máy quay đặc biệt (GoPro) được dùng trong các chương trình khám phá, 1 máy quay thường, 2 máy ảnh và 2 điện thoại có chức năng ghi hình. 
Cả huyện có duy nhất một cái nhà nghỉ thì đã hết phòng, tôi và Cường thực sự hoang mang không biết sẽ tá túc ở đâu. May sao Ủy ban huyện còn thừa ra một phòng công vụ. Thế là chúng tôi được về ở đó. Không bỏ phí thời gian, ngay buổi chiều, tôi và Cường quyết định vào bệnh viện thăm hai cha con ông Hồ Văn Thanh ở Trung tâm Y tế huyện Tây Trà. 

 

Gặp mặt
Anh Hồ Văn Lâm - cháu ông Thanh cho chúng tôi biết, hầu như năm nào gia đình cũng mang gạo và muối vào rừng để tiếp tế cho hai cha con, nhưng gần như hai người không sử dụng đến. Người nhà cùng chính quyền cũng đã nhiều lần khuyên trở về nhưng hai cha con kiên quyết lảng tránh. Đến gần đây, khi biết ông Thanh bị bệnh phải nằm một chỗ, gia đình mới xin chính quyền địa phương giúp đỡ để đưa về chăm sóc.
Người đến thăm hai cha con khá đông. Chủ yếu là vì tò mò. Người dân thì chỉ trỏ, bàn luận. Cánh phóng viên thì chẳng cần xin phép ai đã chạy loanh quanh chụp ảnh góc này góc kia như đang săn hình “sinh vật lạ”. Điều này khiến người nhà ông Thanh rất khó chịu, đặc biệt là anh Lâm - cháu ông Thanh. Có lẽ, cũng bởi vì thế mà anh ít có thiện cảm hơn với cánh báo chí. 
Sau khi xin phép bệnh viện và người nhà ông Thanh, chúng tôi được đặt máy quay với hy vọng ghi lại được toàn bộ buổi chuyện trò. Tuy nhiên, tôi và Cường đã thực sự “vỡ mộng” khi biết rằng suốt một tuần qua, hai cha con họ đã không nói lời nào, có chăng chỉ là vài tiếng được tiếng mất với người thân trong một không gian hoàn toàn vắng vẻ. Và thực sự trong suốt một buổi chiều đặt máy quay ở phòng hai cha con, chúng tôi cũng không hề thu được một lời nói nào. 
Lúc này, anh con trai tên Hồ Văn Lang cũng đang bị sốt và có dấu hiệu viêm phổi. Có con trai ở bên, ông Thanh cũng không còn đòi đi như mấy hôm đầu mới về nữa. Nhưng cảm giác bồn chồn và lạc lõng dường như vẫn vây quanh người đàn ông hơn 80 tuổi này. Một tuần rời rừng cũng là một tuần ông im lặng. Không giống như các bệnh nhân khác, ông Thanh rất ít khi nằm và cũng ít ngủ. Cuộc sống thiếu thốn 40 năm nơi núi rừng đã khiến khuôn mặt ông không còn sức sống. Có một điều lạ là không biết có phải nhờ sống giữa thiên nhiên hay không mà dù đã hơn 80 tuổi, tóc ông Thanh cũng không có lấy một sợi bạc. Một con mắt đã bị hỏng trong một trận đau mắt hơn chục năm trước. Cơn mưa chiều bất ngờ đổ xuống như càng khiến nỗi nhớ rừng, nhớ rẫy trong ông thêm quay quắt. Nơi này khác xa so với bạt ngàn rừng núi nơi ông đã gắn bó, và khác xa so với ký ức của ông hơn 40 năm trước.

 

So với người cha thì một tuần qua tất cả những gì anh Lang được trải nghiệm đều là mới mẻ. Bao nhiêu năm sống giữa thiên nhiên, anh Lang chỉ quen với việc săn bắt thú rừng, trồng lúa, tỉa bắp để nuôi sống hai cha con. Nay trở về làng với cuộc sống mới, cái gì đối với anh cũng xa lạ. Ánh mắt của người đàn ông lớn lên trong rừng từ khi mới hơn 1 tuổi khiến chúng tôi liên tưởng tới vô vàn trở ngại đang chờ anh phía trước. Khó khăn có thể hữu hình và chỉ nhỏ như mũi kim tiêm đang đâm vào da thịt anh lúc này, nhưng cũng có thể là những điều mà bản thân những người đưa anh về với cuộc sống này cũng chưa tưởng tượng ra. Suốt 40 năm qua chỉ biết bốn bề là cây cối bạt ngàn, nay anh biết thêm thế nào là một không gian đóng kín. Vậy nên, giống như với ông Thanh, tiếng gọi của rừng xanh dường như lúc nào cũng vang vọng trong anh Lang. 
Có những hình ảnh mà cả tôi và Cường đều rất tâm đắc và bị ám ảnh. Đó là ánh mắt đờ đẫn, vô hồn của hai cha con ông Thanh khi nhìn vào bốn bức tường trước mặt. Nhưng cũng đôi mắt đó lại cháy bỏng, da diết khi hướng về dãy núi xa xa. Không gian lặng im như bị xé toạc bởi tiếng gõ chân liên hồi xuống mặt giường của ông Thanh. Một sự bất an trong bất lực. 
Tôi và Cường định bụng đêm đó sẽ ở lại viện với hy vọng sẽ có ít người vào thăm hơn, hai cha con sẽ bớt e ngại, và biết đâu họ sẽ thốt ra một vài lời - điều mà chưa một báo, đài nào ghi lại được. Tuy nhiên, xui xẻo cho chúng tôi, hôm đó khu vực trung tâm huyện mất điện cho đến tận sáng hôm sau. Cả một đêm quý giá coi như đi tong. 
Sáng hôm sau, trước khi vào rừng, tôi và Cường lại ghé vào bệnh viện xem tình hình có khá hơn không. Nhưng vẫn chẳng có gì thay đổi. Hai cha con “người rừng” vẫn không chịu nói một lời nào. Sự im lặng ngày càng tăng thêm. Như một lời khẳng định rằng: Họ không thuộc về nơi này.
Sự im lặng đó càng thôi thúc chúng tôi phải vào rừng. Vào để xem cuộc sống ở đó như thế nào? Hai cha con họ đã sống ra sao? Ở đó có gì khiến họ phải lưu luyến đến thế?.. Tôi đặt vấn đề với anh Hồ Văn Lâm để nhờ anh dẫn vào rừng. Rất bất ngờ là anh đưa giá 1,5 triệu đồng, cao hơn gần chục lần thù lao dẫn đường mà những người dân khác đưa ra. Nhưng cả tôi và Cường đều hiểu rằng chúng tôi thực sự rất cần anh bởi anh là người thông thạo đường đi và cũng là người duy nhất suốt mấy chục năm qua đi lại, thăm hỏi cha con “người rừng”, anh cũng là người biết rõ cuộc sống của họ đã diễn ra như thế nào. Vì thế, chúng tôi đồng ý. 

 

Trải nghiệm 
9h sáng, chúng tôi bắt đầu vào rừng. Nơi sinh sống của cha con ông Thanh là ngọn núi cao Apon, cách trung tâm huyện Tây Trà hơn chục km, để đến nơi phải đi bộ khoảng 4 tiếng đường rừng, vượt qua 2 quả núi. Có những đoạn không có bóng cây, lại đúng giữa trưa khiến mắt tôi cứ hoa lên, chân không thể bước nổi. Đồ lương thực chúng tôi mang vào rừng được tối giản hóa, chỉ có mì tôm, một ít gạo và bịch lương khô Mỹ - “bảo bối” sếp cho. Lần hiếm hoi trong đời, tôi quyết định bỏ qua khái niệm “ăn uống vệ sinh” để tận hưởng dòng nước suối mát ngọt và những trái cây dại ven đường có mùi vị rất lạ.  
Gần đến nơi ở của cha con ông Thanh, con đường mòn trên núi bỗng biến mất, chúng tôi chỉ còn cách đi theo sự chỉ dẫn của anh Hồ Văn Lâm. Đây là khu vực ít người biết đến nên cây rừng còn khá nguyên sơ. Căn chòi của cha con ông Thanh bất ngờ hiện ra dưới một tán cây rừng. Trong 40 năm qua thì đây là chỗ ở thứ 8 của hai cha con “người rừng”, và mỗi lần di chuyển họ lại càng lùi sâu vào núi để lánh mặt mọi người. 
Nơi ở lần này bao gồm hai căn chòi cách nhau gần 100m, và một căn bếp để nấu ăn trên rẫy. Bao bọc xung quanh là núi, suối và cây rừng. Căn chòi đầu tiên, cũng là nơi ở chính của hai cha con nằm cách mặt đất hơn 5m, trên một thân chò già cùng hàng chục cây lồ ô chống đỡ bên dưới. Để ngăn người lạ đến gần căn chòi lá, cha con ông Thanh treo một tấm mành lồ ô hình lục giác phía trước chòi để cảnh báo kiêng kỵ.
Chiếc cầu dẫn lên chòi làm bằng nhiều cây rừng được buộc chặt bằng những sợi dây mây. Trong căn chòi, chủ yếu là những chiếc ống lồ ô nhuộm đen màu khói tro dùng để chứa lương thực dự trữ. Cách đó gần 100m, cha con ông Thanh còn dựng một cái chòi lá khác cũng ở trên cây làm nơi cất trữ lương thực sau thu hoạch, và cũng là nơi ở dự phòng trong trường hợp nhà chính bị mưa, gió làm hỏng. 
Lúc này cũng đã 1h chiều. Vừa đặt balô, máy móc xuống thì chúng tôi phát hiện chân ai cũng dính vài con vắt đang hút máu no nê. Để thực sự trải nghiệm cuộc sống của người rừng, chúng tôi quyết định tái hiện lại những sinh họat hàng ngày của cha con ông Thanh. Anh Lâm trở thành “diễn viên” bất đắc dĩ vào vai “người rừng” khi phải đóng khố, đeo gùi. Đúng như cách nấu cơm của cha con ông Thanh, anh Lâm cũng tự làm bùi nhùi và nhặt 2 hòn đá đánh lửa rồi đi xung quanh căn chòi hái lá rừng. Tôi và Cường đi kiếm củi. Bữa trưa của chúng tôi chỉ có mì tôm nấu với rau rừng. Ăn xong, chúng tôi đi quay luôn vì sợ trong rừng trời sẽ tắt nắng rất nhanh. Do đêm hôm trước mất điện không xạc được pin máy quay nên Đức Cường phải tác nghiệp trên tinh thần tiết kiệm triệt để. 
Một số người cao tuổi trong làng đã cho tôi biết, trước kia, ông Thanh từng hành nghề thợ rèn và có tài săn bắn. Bộ sưu tập búa, rìu, dao, rựa, nồi, lược chải tóc chế tạo từ những mảnh bom hay vỏ can xăng nhôm từ thời chiến tranh sót lại trong rừng cho thấy tay nghề đáng nể của ông.

 Đánh răng bằng nước suối

Ngoài ra, để chống chọi với thú dữ và thời tiết khắc nghiệt ở nơi rừng thiêng, nước độc, cha con “người rừng” còn dùng nứa đan thành chiếu, dùng vỏ cây làm áo và khố che thân, đan lá cây thành áo mưa, lấy thân cây lồ ô cắt ra thành ống cất giữ đồ. Đặc biệt, chỗ lúa được cất trữ trong chòi còn cho thấy, dường như “người rừng” không chỉ sống phụ thuộc vào việc săn bắt, hái lượm mà còn chủ động canh tác lương thực. Khéo léo hơn, ông còn biết tận dụng các dòng chảy để tạo ra những dụng cụ xua đuổi thú rừng độc đáo.
Quanh chỗ ở của “người rừng”, còn có những cây cau và rất nhiều trầu. Ăn trầu để nhuộm răng và sạch miệng cũng là một tập tục của người Cor. Trên thực tế thì cả hai cha con ông Thanh đều nghiện trầu. Trong chòi, còn một số thịt chuột phơi khô trên gác bếp. Đặc biệt, mật thú rừng cũng được cha con ông tích góp lại cẩn thận để chữa bệnh.
6h chiều, trời đã sập tối, không thể quay tiếp được nữa, chúng tôi quay về chòi. Bữa tối, sẵn có ít gạo, mấy anh em quyết định nấu cơm. Do trời tối, lại vội vàng nên cuối cùng nồi cơm bị sống. Thức ăn cũng chỉ có rau rừng luộc chấm muối. Thế nhưng, có lẽ vì mệt và đói nên ai cũng ăn ngon lành, thậm chí anh chàng quay phim Đức Cường thường ngày vẫn kén ăn mà nay cũng làm được… 3 bát. 
Sau bữa tối, đúng như thói quen thường ngày của cha con ông Thanh, chúng tôi hái lá chè xanh để nấu nước. Anh Lâm kiếm được trong chòi những mẩu vỏ cây chai và bắt đầu đốt lên. Hóa ra, mấy chục năm qua, sống trong cảnh không điện, không đèn, không nến, cha con ông Thanh đã đốt nhựa cây chai để thắp sáng căn chòi. 
Buổi tối, anh Lâm bảo tôi và Cường lên trên chòi ngủ còn anh mắc võng ngủ ở dưới chân chòi. Căn chòi chỉ rộng khoảng 2m2, trong đó 1/3 diện tích đã được hai cha con ông Thanh dùng làm bếp và nơi dự trữ đồ khô. Với phần diện tích chật chội còn lại, cả tôi và Cường đều phải nằm co ro và hầu như không cựa quậy được. 
Suốt cả đêm, tôi không ngủ được. Trong đầu cứ nghĩ mãi về cuộc sống của cha con người rừng suốt 40 năm qua. Hóa ra, không quá tệ như người ta vẫn tưởng. Họ vẫn trồng được lúa để ăn, có rau rừng, có thịt thú. Họ uống nước suối và hái quả rừng. Những lúc nghỉ ngơi, họ cũng ngồi thong thả ăn trầu hoặc nhấp ngụm chè xanh. Không có nhà cao cửa rộng nhưng họ cũng có một chỗ để che mưa che nắng mà không sợ bị ai quấy rầy. Họ được sống theo cách mình lựa chọn. Tự dưng, tôi cảm thấy ở đây thật nhẹ nhõm và bình yên. 
6h sáng hôm sau, chúng tôi tỉnh giấc bởi tiếng chim rừng hót líu lo và không khí trong lành buổi sáng. Ăn vội mẩu lương khô, chúng tôi lại tiếp tục vác máy đi quay. Đang quay dở thì tôi nhận được thông tin hai cha con ông Thanh chuẩn bị được chuyển xuống bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi. Ngay lập tức, mấy anh em thu dọn đồ đạc để quay ra Tây Trà. Nhưng dù đã đi không ngừng nghỉ và cố rút ngắn thời gian di chuyển từ hơn 3 tiếng xuống còn hơn 2 tiếng thì khi chúng tôi ra đến nơi, hai cha con họ đã đi mất. Cả 2 tiếc ngẩn ngơ như lữ khách lỡ chuyến xe cuối cùng. 
Buổi chiều, tôi và Đức Cường quyết định lên thành phố. Tuy nhiên, suốt buổi tối hôm ấy và sáng hôm sau, dù đã trình bày, xin phép, thậm chí năn nỉ nhưng bệnh viện tỉnh vẫn cương quyết không cho báo chí vào làm phiền hai cha con “người rừng”. Hôm đó lại là ngày chúng tôi phải quay ra Đà Nẵng theo lịch trình. Đúng trước giờ lên đường 1 tiếng, nhờ người quen đứng ra bảo lãnh với bệnh viện, tôi cũng đặt được máy quay trong phòng hai cha con ông Thanh với hy vọng có thể thu được một vài lời nói, trao đổi giữa họ với người thân. Nhưng tuyệt nhiên, họ vẫn không nói một lời nào. Tôi và Cường chỉ biết thất vọng nhìn nhau, đành ra về trong nuối tiếc. 

 Bữa trưa bằng mỳ tôm với rau rừng

Chiều thứ 7, chúng tôi có mặt ở Hà Nội. Mất hai ngày sản xuất hậu kỳ để thứ 2 chương trình lên sóng. Nhìn lại những hình ảnh của 4 ngày đầy vội vã, đầy trải nghiệm và đầy cảm xúc, cả tôi và Cường vẫn còn nguyên cảm giác lâng lâng. 
Dù chỉ một ngày đêm làm “người rừng” nhưng tôi cũng đã phần nào hiểu được vì sao hai cha con ông Thanh lại lưu luyến rừng già đến thế. Với đại đa số những ai đang được tận hưởng cuộc sống văn minh, khó tin rằng con người có thể sống như ở thời tiền sử trong suốt thời gian dài như vậy. Nhưng với hai cha con “người rừng” ấy, một người đãng trí, một người hồn nhiên như cỏ cây, họ thực sự đã có cuộc sống hạnh phúc giữa đại ngàn bao dung.
81 tuổi, ông Thanh đã quá già để bắt đầu đối mặt với mọi thay đổi. Ông đã lựa chọn cuộc sống cho mình 40 năm trước nhưng giờ đây ông đang đối mặt với việc không chọn được cách sống trong quãng đời còn lại và thậm chí là không chọn được cách chết cho mình. Còn với anh Lang, anh sẽ bắt đầu thế nào với cuộc sống văn minh khi đã 41 tuổi? Từ lúc sinh ra, cuộc sống của anh đã gắn bó với núi rừng, thế giới hiện tại mà anh đang đối mặt là một thế giới hoàn toàn xa lạ. Liệu rồi đây, những đủ đầy về vật chất có khiến cho họ hạnh phúc? Những câu hỏi đó đến giờ vẫn luẩn quẩn trong đầu tôi.
Chứng kiến cảnh hai cha con “người rừng” nhớ quay quắt cuộc sống hoang dã, không ít người sẽ phải giật mình suy ngẫm về giá trị của hạnh phúc. Thiết nghĩ, cuộc sống ở rừng sâu - nơi không phải bận tâm về tiền bạc, vật chất – có khi lại thanh thản hơn chốn hiện đại mà chúng ta đang sống.

Ghi theo lời kể của BTV Lưu Phước
Bình luận

Bạn chưa nhập đủ thông tin

Cùng chuyên mục

Chung sức cứu trợ đồng bào vùng hạn mặn

Chung sức cứu trợ đồng bào vùng hạn mặn

Để hỗ trợ cho đồng bào vùng hạn mặn, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Cổng 1400 phát động ủng hộ nhắn tin “ Nước ngọt và sinh kế cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi hạn hán, xâm nhập mặn” từ 7/4 đến hết ngày 5/6/2016 với cú pháp NC gửi 1407

Đọc nhiều

Lâm Tâm Như đã ly hôn?

Lâm Tâm Như đã ly hôn?

Blogger nổi tiếng của làng giải trí Trung Quốc tuyên bố thông tin chấn động: Cặp đôi đình đám Hoắc Kiến Hoa và Lâm Tâm Như đã ly hôn.