"Vòi bạch tuộc" giữa rừng Tam Đảo

Các “quặng tặc” dùng cào khoét vào chân những phiến đá to như ngôi nhà 3 gian, để móc quặng ra. Nhiều người còn chui đến nửa người vào bên trong, chỉ còn mỗi 2 chân và cái mông thò ra ngoài.

Tin liên quan

» Đua nhau phá nát Vườn quốc gia Tam Đảo


Có đi vào trung tâm khai thác thiếc lậu xã Thiện Kế (Sơn Dương, Tuyên Quang) mới thấy rõ quá trình khai thác thiếc lậu huỷ hoại rừng, núi, nguồn nước như thế nào. Tất cả bắt đầu từ việc tận thu thiếc sa khoáng.

Chẻ đá tìm quặng

Tận mắt thấy cảnh tàn phá của việc khai thác thiếc đối với cánh rừng nguyên sinh ở đây, chúng tôi đi từ cảm giác ngỡ ngàng đến ngộp thở, vì tất cả trước mắt tôi chỉ là một bình địa không hơn không kém.

Những hòn đá bị móc lên, chẻ ra vứt ngổn ngang thành gò, thành đống khắp rừng. Chúng tôi muốn ngược núi chỉ có mỗi cách duy nhất là trèo lên những đống đá mồ côi sắc nhọn để tiến lên.

Người dẫn đường liên tục cảnh báo: “Cẩn thận không đá đè là mất chân, mất tay như chơi đấy. Để ý cả mấy cái hố sâu hun hút, nếu rơi xuống là toi đời”.

Quặng tặc trong những hầm lò sâu hun hút trong lòng núi. 

Chưa nghe những lời cảnh báo ấy thì bước chân của chúng tôi cũng đã phải rón rén. Nhưng khi nhìn xuống những hố sâu đó, cái cảm giác kinh hoàng mới “phát tán” trong người: Các “quặng tặc” dùng cào khoét vào chân những phiến đá to như ngôi nhà 3 gian, để móc quặng ra. Nhiều người còn chui đến nửa người vào bên trong, chỉ còn mỗi 2 chân và cái mông thò ra ngoài.

Tôi tò mò lại gần để xem cái nửa người kia là đàn ông hay đàn bà thì bị một thanh niên mặt đen như than chặn lại: “Ông anh thông cảm, đừng xuống. Bọn em ở đây vừa làm, vừa nghe ngóng, ông anh trèo vào lung tung đá sập, đè chết cả lũ bây giờ”.

Thì ra đây là khu vực mà cánh làm quặng gọi là “đánh sa khoáng” khai thác lộ thiên. Có nghĩa là làm theo mạch nước khoét xuống sâu để vét quặng, sau đó mới chuyển qua máng đãi. Nếu gặp đá to thì phải đập cho tan ra rồi vét quặng tiếp, cách này không tốn tiền đầu tư lâu dài. Làm ngày nào ăn ngày đấy. Nếu thấy kiểm lâm chỉ việc tót vào rừng là xong.

Như hiểu được sự nguy hiểm của việc chui vào cái hàm ếch dưới tảng đá, thân người có khác gì quả trứng bị đặt dưới ngàn cân, Trung- người thôn Khoa B, xã Thiện Kế trườn ra nói: “Tao vẫn thấy vỉa nhưng kiểu này phải đập thôi, không thì khó gặm lắm”.

Cả nhóm 6 thanh niên xúm vào xem thớ tảng đá rồi thay nhau quai liên hồi những nhát búa chắc nịch xuống tảng đá to bằng gian nhà, nhưng tảng đá vẫn trơ ra. Ngồi nghỉ sau một hồi quai búa, Thắng - một trong nhóm 6 người móc quặng nói: “Cái giống đá xám này dai lắm, nếu không có vài thỏi mìn ốp vào có vài ngày cũng không gãi được nó ra để mà vét quặng. Mấy hôm nay bí thuốc, bọn em đành phải chẻ đá bằng tay, kiểu này mai phải đi mua mìn gấp, chứ sâu thế này đang ngon ăn mà gặp đá thì có mà thất thu”.

Phân đoạn công việc

Nếu như cái công việc nặng nhọc chẻ đá để vét quặng chỉ dành cho cánh đàn ông lực điền, thì công đoạn đảo máng đãi quặng nhất định không thể lọt khỏi tay chị em phụ nữ. Bởi thế trên bãi quặng này lúc nào cũng có hàng trăm chị em đủ mọi lứa tuổi thi nhau “ai nhanh tay đãi bằng tay em”, để tìm những hạt quặng đắt đỏ.

Ngồi phụ việc cho mẹ và chú, cô bé Tô Thị Vân, đang học lớp 9 Trường Thiện Kế. Nhìn những động tác thành thạo khi lắc máng, tôi biết Vân đã làm lâu năm trong công việc này.

Đào đãi thiếc lậu ở xã Thiện Kế, Sơn Dương (Tuyên Quang). 

Vân giảng giải: “Đất cho vào máng đãi phải bóp thật kỹ, chao vào nước để cho trôi dần đi, phải làm cẩn thận, tỉ mỉ. Quặng nặng sẽ đọng xuống dưới, khi nào còn lại những hạt đen nhỏ như hạt vừng thì đó chính là quặng thiếc. Cứ 5 lần đảo máng mà được một lạng quặng là sướng lắm rồi”.

Sau mỗi lần đảo máng thu được một gợn quặng mỏng, Vân lại cẩn thận đổ vào chiếc túi nilon như sợ những hạt quặng vương ra ngoài mất.

Cũng là một thợ đãi quặng, chị Loan vừa khuấy đất trong máng, vừa kể: “Bãi thiếc này phát hiện được 10 năm thì chị có thâm niên cả 10 năm làm nghề đãi máng. Cả đội chỉ cần mấy tay đàn ông để vét quặng ở dưới khe và đập đá thôi. Cả làng tớ đàn bà cứ sáng đi mang theo cơm nắm ăn trưa tại chỗ làm, tối lại về nhà với chồng với con”.

Làm như chị Loan, ngày ít cũng kiếm được 200 nghìn đồng. Còn hôm nào trúng thì được cả triệu đồng, nên càng làm càng ham. Chị nói: “Trừ những hôm mưa gió không đi làm được thôi, chứ tội gì mà ngồi ở nhà, mình không làm thì người khác cũng làm mất, chứ có ai giữ đâu mà sợ”.

Đục thủng núi rừng

Tôi thập thò định chui vào một cửa hầm, bỗng những tiếng nổ bùng bục vọng ra. Một luồng khí hất ngược tôi ra cửa hầm, kèm theo mùi thuốc súng khét lẹt bốc lên. Sau tiếng nổ, từ đường hầm lù lù xuất hiện một chiếc xe gỗ tự chế chui ra. Trên xe là một quặng tặc từ đầu đến chân toàn bùn đất. Hỏi mới biết anh ta tên Ninh.
Quặng tặc trong những hầm lò sâu hun hút trong lòng núi

Ninh phấn khởi khoe: “Hôm nay đúng mạch, toàn viên to”. Cầm cục quặng to bằng nửa viên gạch, Ninh nói: “Chỉ một viên này thôi cũng được 200.000 đồng, nếu một ngày làm vài chục viên thì ấm rồi”. Tôi ngỏ ý muốn xuống tham quan cái lò mà Ninh mới chui ra, anh bảo: “Đợi chút cho hết mùi thuốc nổ hãy xuống, nếu không quen dễ bị ngất lắm vì trong đó bí hơi”.

Tôi khom người trườn theo Ninh vào bên trong của đường hầm, và phát hiện ra một sự thật hãi hùng: Cả một đoạn đường hầm dài 120m, có 4 giếng xuống, không hề có một chiếc cột chống, lỗ thông gió hay bất cứ thiết bị bảo hộ nào. Ninh đi trước soi chiếc đèn pin lại trấn an tôi: “Chú yên tâm, lịch sử những đường hầm này cũng tồn tại được 10 năm rồi, chưa khi nào bị sập cả. Chúng ta đang đi dưới gốc của những cây cổ thụ nên vững lắm”.

Mồm nói, tay anh lia chiếc đèn pin vào những rễ cây đã bị chặt cụt. Đã nhiều lần đi dưới những đường lò dài hàng chục km của vùng than Quảng Ninh, tôi hiểu rằng sự liều lĩnh của những người đào lò này đã tới mức cực điểm, thực sự coi thường tính mạng của chính họ. Như một hướng dẫn viên chuyên nghiệp, Ninh kể: “Để có được đường hầm như thế này bọn anh đã đào suốt 4 năm, và sẽ đào đến bao giờ hết quặng mới thôi”.

Cũng theo anh Ninh, đường hầm này mà so với đường hầm gốc cây Vả đổ vẫn thuộc loại con cháu: “Cánh làm quặng ở đây gọi đường hầm đó là thành phố “Bát Đa”, vì nó có đến 15 ngách lớn nhỏ khác nhau, nếu tính diện tích thì có thể bằng 5 sào ruộng. Thời kỳ cao điểm, trong lòng đường hầm này lúc nào cũng có khoảng 130 người đào quặng 24/24 giờ. Có những ngày cho ra lò 1 tấn quặng. Bây giờ phải những bưởng lớn mới được làm trong đó, vì nó nhiều quặng mà lại dễ đào. Chứ bọn tôi chỉ là chầu rìa, làm được cái đường lò còi, ngày chục cân quặng đủ tiền gạo và tiền nộp thuế tháng”.

Rút ruột lòng đất

 Theo nhiều người dân, cứ tình hình này thì cơ quan quản lý chẳng cấm nổi. “Trước kia có 1 đồi còn không ai quản lý nữa là bây giờ 3 đồi, nếu quản lý được thì các ông ấy đã làm rồi, chẳng để đến 10 năm như thế này”- Bằng nói.
Ninh nói cái lò của mình là lò còi, nhưng theo chân quặng tặc này vào bên trong mới thấy đây đúng là một công trường trong lòng đất. Sau khi chui 4 lần giếng, tôi đã tới được nơi các quặng tặc đang miệt mài đào bới. Khác hẳn với sự nhỏ hẹp ở cửa hang, lúc vào bên trong tôi thấy phần trần hang được khoét rộng bằng mấy ngôi nhà. Bằng - một thợ quặng đang dùng chiếc búa chim bổ vào thành đất để móc ra những cục quặng to như củ khoai lang cho biết: “Làm ở trong này đất ướt nên cuốc cũng dễ, nhưng gặp đá to thì mệt.

Khác với làm sa khoáng, quặng ở đây toàn là cục, bao giờ cũng thuôn, có những lỗ nhỏ xung quanh và cầm nặng hơn đá bình thường. Nhấc một cục quặng to bằng cái bát con, Ninh tự tin khoe: Chỉ cần thế này là bọn anh có thể đi chơi thoải mái rồi, ít nhất cũng phải 2kg. Giá hiện tại là 140 nghìn đồng/kg. Quặng thiếc khai thác tới đâu, các đầu nậu ra tận cửa rừng để đón hàng.

Nhóm của Ninh - Bằng có 8 người, thường chia làm 2 đợt vào lò, cứ 4 vào thì 4 người khác ở ngoài làm công việc đập quặng ngay tại cửa hang. Ngồi cầm búa đập những viên quặng ra để tiếp tục đãi lấy thiếc, Bằng nói: “Dân làm lò bọn tôi phải làm lán ăn ở luôn trên rừng, vài ngày mới về nhà một lần. Công việc thì làm đến lúc nào mệt mới nghỉ, ngủ dậy lại làm tiếp. Bây giờ còn có đèn pin mà vào lò chứ trước kia toàn sử dụng đất đèn để thắp, nhiều người đang làm bị ngạt hơi chết luôn ở trong lò”.

Theo Bằng, đầu tư được một đường lò như thế này cũng rất tốn kém, mất 2 tháng khai lò mới thấy quặng, lại phải lo lót chỗ nọ, chỗ kia để người ta làm ngơ đi cho mà làm. “Hôm nào có đoàn lên kiểm tra mình rút về nhà với vợ, lúc họ đi rồi mình lại tiếp tục làm” - Bằng nói.

Không hiểu dựa vào đâu mà những kẻ đào lò ăn cắp quặng có thể làm được những điều đó, để cho các vòi bạch tuộc trong lòng núi ngày càng lan rộng ra và không có dấu hiệu dừng lại.

Theo Gia Tưởng - NTNN
Bình luận

TIN TỨC LIÊN QUAN