Hãy ủng hộ chúng tôi !

Thưa quý độc giả,
Báo điện tử VTC News mong nhận được sự ủng hộ của quý bạn đọc để có điều kiện nâng cao hơn nữa chất lượng nội dung cũng như hình thức, đáp ứng yêu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng cao. Chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý độc giả luôn đồng hành, ủng hộ tờ báo phát triển. Mong nhận được sự ủng hộ của quý vị qua hình thức:

Ủng hộ qua eBanking

  • vtc.vn

    Báo điện tử VTC News

Đóng
  • Zalo

Những thầy giáo đặc biệt trên quê Bác

Giáo dục Thứ Hai, 19/05/2014 07:26:00 +07:00

Ở huyện Nam Đàn (Nghệ An) có hai người đàn ông với hai nỗi bất hạnh khác nhau, một người mù lòa do bom đạn của kẻ thù, người kia gặp phải chứng teo cơ.

Ở huyện Nam Đàn (Nghệ An) có hai người đàn ông với hai nỗi bất hạnh khác nhau, một người mù lòa do bom đạn của kẻ thù, người kia gặp phải chứng teo cơ dẫn đến liệt toàn thân.

Nhưng giữa họ có một điểm chung, đó là nghị lực vươn lên chiến thắng hoàn cảnh và trở thành những người thầy đặc biệt, xứng đáng là người con tiếp bước thầy giáo Nguyễn Tất Thành - Bác Hồ của chúng ta.

Giáo án... tưởng tượng

Đôi mắt không còn nhận biết được ánh sáng nhưng ông vẫn miệt mài với công tác xã hội, thậm chí còn mở lớp dạy toán cho học trò trong làng, ông “khoe” rằng: “Đến nay, tôi đã góp phần dạy dỗ 7 học sinh vào đại học”. Đó là câu chuyện của ông Nguyễn Đăng Khoa ở xóm 5, xã Nam Lĩnh (Nam Đàn).

 Lớp học Toán do người thương binh mù Nguyễn Đăng Khoa đứng lớp
Lớp học Toán do người thương binh mù Nguyễn Đăng Khoa đứng lớp 
Dưới hiên nhà phủ đầy cây tóc tiên, ánh nắng hè tỏa rạng, ông kể về cuộc đời mình, kể từ khi mất đi nguồn ánh sáng: “Ngày 5/8/1964, bước vào tuổi 22, đang học lớp cuối cấp của Trường cấp 3 Nam Đàn, tôi quyết định gác lại ước mơ trở thành thầy giáo dạy Toán và viết bức huyết tâm thư xin tình nguyện nhập ngũ để được ra chiến trường...”.

Người lính trẻ Nguyễn Đăng Khoa được bổ sung vào Đoàn 559 có nhiệm vụ mở đường, tiếp tế vũ khí, quân lương vào chiến trường miền Nam. Năm1968, trong một trận bom ác liệt, ông Khoa bị thương nặng ở mắt và phải chuyển về tuyến sau.

Thật kỳ diệu và phi thường, khi người lính trở về trong cảnh mù lòa lại đứng trên bục giảng để truyền thụ tri thức cho các thế hệ học trò. Cơ duyên trở về với niềm mơ ước năm xưa khi một lần sang nhà hàng xóm uống nước chè xanh, ông Khoa vô tình nghe được hai đứa trẻ đang trao đổi với nhau về một bài toán hình học.


“Tranh luận mãi nhưng vẫn không đứa nào chịu đứa nào, bất chợt những kiến thức hình học ngày trước thức dậy trong đầu, tôi liền cầm hòn than vẽ hình giữa sân và giảng giải cho chúng” - ông Khoa kể.

Bọn trẻ trố mắt nhìn, không thể ngờ được cách giải và đáp số của ông Khoa hoàn toàn khớp với hướng dẫn trong sách giáo khoa. Từ đó, hễ gặp bài toán khó, lũ trẻ trong làng lại tìm sang nhà ông Khoa nhờ ông giảng giải.

Lũ học trò tìm đến ngày một đông, trong đầu ông Khoa bắt đầu hình thành ý tưởng tập hợp các em thành một lớp để tiết kiệm thời gian và thuận tiện cho việc giảng giải.

Lúc đầu, các thành viên trong gia đình tỏ ra ái ngại, nhưng trước quyết tâm của ông và nhận thấy đó là một phần niềm vui, hạnh phúc tuổi già của ông, về sau tất cả mọi người đều ủng hộ.


Từ đó, dưới dàn tôn rợp bóng mát, mỗi buổi chiều lớp học toán do thầy giáo mù Nguyễn Đăng Khoa đứng lớp góp phần làm cho không khí làng quê trở nên rộn ràng, náo nức bởi tiếng học bài, tiếng nói cười của con trẻ.

Thấy lớp học có hiệu quả, xã Nam Lĩnh mua tặng ông 6 bộ bàn ghế, rồi Phòng Giáo dục tặng ông một bảng chống lóa. Ở mỗi lớp, ông chọn một học trò khá nhất làm “trợ giảng”, có nhiệm vụ đọc đề và giúp ông viết công thức và kẻ vẽ hình.

Sau khi nghe đọc đề, trong đầu ông lập tức định hình về quy trình, phương pháp và cách tiếp cận để tìm ra đáp số một cách nhanh nhất. Hỏi “Vì sao mắt không còn nhìn thấy mà ông vẫn có thể đảm nhiệm được vai trò của một người thầy dạy toán?”, ông Khoa trả lời: “Những kiến thức toán học, đặc biệt là hình học được học ngày xưa tôi còn nhớ khá rõ. Khi nghe xong đề bài, tôi tưởng tượng trong đầu về các góc, các cạnh, rồi huy động các công thức liên quan để tìm cách giải quyết hợp lý nhất”.


Từ đó đến nay đã hơn10 năm và ông Khoa đã mở được khá nhiều lớp học tại gia (mỗi lớp trên dưới 20 em, chủ yếu là bậc THCS), hơn 200 em nhỏ vùng quê nghèo Nam Lĩnh được củng cố kiến thức để vững vàng khi theo học các lớp học, cấp học cao hơn. Trong đó, có 7 em đã bước vào giảng đường đại học.

Điển hình như em Nguyễn Thị Thanh gặp phải hoàn cảnh éo le khi bố mẹ ly hôn ở Đắk Lắk, em phải về quê sinh sống với gia đình người cậu ruột. Được ông Khoa kèm cặp, em Thanh nỗ lực vươn lên trong học tập và đạt danh hiệu Học sinh nghèo vượt khó, được nhận quà của Tỉnh đoàn.

Đến nay, em đã là sinh viên Khoa Tài nguyên - Môi trường của Trường đại học Huế. Hay như em Nguyễn Minh Châu 3 lần phải phẫu thuật sứt môi - hở hàm ếch nhưng được ông Khoa động viên, em vẫn cố gắng bám lớp và học tập tốt.

Nay Thanh đã tốt nghiệp THPT và đã có việc làm ổn định. Và hầu hết học trò của ông đều là những “hạt nhân”, “mũi nhọn” của các lớp học ở trường. Điều đáng nói là dù bỏ thời gian, công sức (2 buổi/tuần) nhưng lớp học của ông Khoa tổ chức hoàn toàn miễn phí.


Ông chia sẻ: “Sinh thời, Bác Hồ dành nhiều tình cảm cho các cháu thiêu niên - nhi đồng, trước lúc đi xa Người còn muôn vàn tình yêu thương cho các em nhỏ. Học theo Bác, tôi quyết định tìm cách giúp đỡ các cháu thiếu nhi. Là thương binh nặng, được hưởng chế độ đãi ngộ đặc biệt của Nhà nước, giờ giúp ích được gì cho con cháu gần xa, cho xóm giềng, cho quê hương thì lấy đó làm hạnh phúc”.

Không chỉ kiến thức về hình học, ông Nguyễn Đăng Khoa còn nắm vững kiến thức về lịch sử, văn hóa và xã hội. Và mỗi khi “bí” về mảng kiến thức này, lũ trẻ trong làng cũng tìm đến ông.

Những năm học trước, ngành giáo dục Nam Đàn tổ chức cuộc thi “Em yêu quê hương” cho các trường THCS trên toàn huyện. Ông Khoa đã kịp thời bổ trợ những kiến thức về lịch sử, văn hóa để các em học sinh Trường THCS Nam Lĩnh dự thi thành công và giành được giải cao.

Những kiến thức ông tích lũy chủ yếu được tiếp nhận qua các phương tiện truyền thông, bởi với ông “Một ngày không nghe, không đọc, không viết là tụt hậu một ngày. Đã mất đi nguồn ánh sáng thì phải vận dụng tối đa nguồn âm thanh để tiếp nhận và khám phá thế giới bên ngoài”. Rồi nét mặt ông trở nên rạng rỡ: “Cách đây gần 3 năm, tôi được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí MinhBộ Giáo dục và Đào tạo trao tặng “Thẻ nhà giáo”.

Lúc ấy tôi xúc động đến trào nước mắt, bởi lẽ ước mơ trở thành nhà giáo phải đến tuổi 68 mới thành hiện thực”. Một người bạn đã viết tặng ông mấy câu thơ: “Gậy thay đôi mắt bước lần theo/ Khấp khểnh đường thôn uốn vòng vèo/ Dò dẫm trong đêm nào ai biết/ Một lớp tình thương giữa xóm nghèo...”.


Không chỉ dạy học, người thương binh mù Nguyễn Đăng Khoa còn được bà con gọi là “Nghệ sĩ làng quê”, vì ông có thể chơi một lúc 4 nhạc cụ. Trở về quê hương với đôi mắt mù lòa, không thể cầm cuốc, cày để trực tiếp lao động sản xuất, ông Nguyễn Đăng Khoa quyết định tham gia đội văn nghệ xã Nam Lĩnh, góp phần tuyên truyền phong trào lao động sản xuất và chi viện cho tiền tuyến miền Nam.

Trong các buổi biểu diễn văn nghệ, bà con xã Nam Lĩnh thường được thưởng thức tiếng đàn măng-đô-lin của người thương binh mù đệm cho những khúc hát dân ca quê hương thêm mượt mà, sâu lắng. Bà con càng nể phục hơn khi người nhạc công mù tài ba có lúc chơi tới 4 nhạc cụ. Miệng thổi khèn ác-mô-ni-ca, tay chơi măng-đô-lin, 2 chân sử dụng bộ gõ, nhạc công Nguyễn Đăng Khoa có lúc giữ vai trò của cả dàn hợp xướng.

Nhờ sự góp mặt của ông, đội văn nghệ xã Nam Lĩnh luôn dẫn đầu toàn huyện về thành tích biểu diễn. Ông tâm sự: “Mình là người dân quê Bác, được đệm đàn và hát lên những khúc ca dâng lên Người còn có niềm vui sướng nào hơn. Vì thế, trong mỗi lần biểu diễn, hình như dòng cảm xúc tuôn trào đã dẫn nhịp cho điệu khèn, nhịp đàn và nhịp trống của tôi...”.



>> ĐỌC TIẾP...
Bình luận

Bạn chưa nhập đủ thông tin