Nhân dịp 20/11 nhớ về một người thầy

Trở về từ nước Nga Xô viết với tấm bằng tiến sĩ tâm lý học đầu tiên của Việt Nam trong tay, chiếc ghế Thứ trưởng - bước đệm để chuẩn bị cho vị trí Bộ trưởng Bộ Giáo dục và đào tạo đã chờ sẵn đợi ông ngồi vào. Nhưng, lời từ chối dứt khoát cùng đề nghị… “cho tôi về dạy lớp Một” của ông đã khiến khối người… thấy choáng! Ông là Hồ Ngọc Đại.

 

Nhà giáo Hồ Ngọc Đại

Khác đi thì không còn là tôi

Hai năm sau lời từ chối, một thứ gọi là Công nghệ giáo dục - hay người đời quen gọi nôm na là giáo dục thực nghiệm, ra đời. “Làm quản lý thì khối người giỏi hơn tôi, nhưng dạy tiểu học hơn tôi thì... hiếm đấy” - ông cười.  Khối kẻ bảo ông dại, ác mồm hơn thì buông hai chữ “dở hơi”. “Nhưng nếu làm khác đi thì đâu còn là Hồ Ngọc Đại”.

 Sau 32 năm đi theo đồ thị hình sin, lên bổng xuống trầm, có thịnh có suy, công nghệ giáo dục Hồ Ngọc Đại - cụ thể hóa bằng những ngôi trường thực nghiệm, vẫn tiếp tục gây ra những cuộc tranh luận chưa có hồi kết. Ông tới đâu là ở đó lập tức chia thành hai phe, người tán dương hết lời, kẻ phản đối quyết liệt. Báo giới đã chuyện trò, phỏng vấn ông rất nhiều, để giúp “số đông lặng thầm luôn đứng sau lưng ủng hộ” (chữ của cố GS Tạ Quang Bửu) hiểu đến tận cùng những nỗ lực không ngừng nghỉ “lấy năng lực tự học của trẻ làm mục tiêu” mà ông theo đuổi cả một đời. “Nếu chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu và lấy bằng tiến sĩ thôi thì chẳng có chuyện gì. Nhưng như thế thì đâu phải là Hồ Ngọc Đại nữa. Tôi muốn thành quả lao động  của mình phải được dành cho số đông hưởng thụ”.

 “Khác đi thì…”. Trong câu chuyện với ông, cụm từ ấy được nhắc đi nhắc lại khá nhiều lần. Vậy thế nào mới chính là Hồ Ngọc Đại? 

 Người luôn “nói khác”

 Những năm của thập kỷ 70, Hà Nội từng có một diễn giả rất “mạnh mồm”. Không sợ hãi, mà cũng chẳng cần nể nang, dư âm mà ông để lại sau mỗi buổi diễn thuyết luôn mới, luôn khác lạ so với cách suy nghĩ và nói năng thời đó. Người ta đang quen với thi đua, “thi đua là yêu nước”. Dưới góc nhìn của ông, “thi đua là kiễng chân ăn gian để mình cao hơn bạn một tí”.

 Người ta hô hào, “thầy giáo là tấm gương sáng cho học sinh noi theo”.  Ông bảo, “mỗi học sinh hãy tự lấy mình làm chuẩn và tự vươn lên hết cỡ, không phải noi gương ai, không cản trở ai”. Người ta áp dụng phương pháp “thầy giảng giải - trò ghi nhớ” thì với ông, “thầy thiết kế - trò thi công”. Người ta trưng khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn”, trường thực nghiệm của ông Đại có chữ “đi học là hạnh phúc”, “mỗi ngày đến trường náo nức một ngày vui”.

 Người ta lấy thầy giáo làm chuẩn. Còn với ông: “ba mươi năm trước tôi đã từng nói, có học sinh mới có thầy giáo, có thầy giáo mới có hiệu trưởng, rồi có Trưởng Phòng - có Giám đốc Sở - Bộ trưởng giáo dục, rồi mới có giáo sư - tiến sĩ như chúng tôi. Tất cả sống nhờ vào một đứa trẻ, nhưng rồi tất cả người lớn chúng ta lại hè nhau bắt nạt đứa trẻ đó”.

 Rồi trong một cuốn sách, ông viết, “Việt Nam còn chưa có trường sư phạm”, dù chính ông cũng đã từng năm năm trên bục giảng khoa Tâm lý, trong cương vị một người thầy. Ông hiệu trưởng Đại học SPHN chỉ vào cổng trường rồi hỏi Hồ Ngọc Đại, “thế thì đây là cái gì?” Trả lời, “đấy là cái biển giúp người ta phân biệt trường với quán phở nằm bên cạnh”….

 Tính ông quyết liệt, thấy đúng là làm tới cùng. Người xưa có câu, “trực ngôn nghịch nhĩ”. Và những lời nói của ông Đại đã làm “nghịch nhĩ” không ít người. Họ bảo ông kiêu căng. Họ - đằng sau lưng - gọi chệch tên ông thành Rồ Ngọc Dại. Ông bảo, “tôi có nghe, có biết. Mấy người bảo thủ, không chịu đón nhận cái mới, chấp làm gì. Cũng có người vừa thương, vừa có ý trách, đường quang không đi lại đâm quàng bụi rậm. Nhưng tôi biết mình không sai. Và vì tôi đủ hiểu biết, đủ lý lẽ để chứng minh những điều mình nói, mình làm là đúng. Tôi chưa bao giờ chịu trách nhiệm trước cấp trên hành chính cả. Những người ấy, đến rồi lại đi, theo nhiệm kỳ. Còn tôi, tôi chịu trách nhiệm đến cùng với những gì mình đeo đuổi, với đất nước, với những đứa trẻ đáng yêu mà tôi dẫn dắt”.

 Người ta “đóng dấu” cái tên Hồ Ngọc Đại với công nghệ giáo dục mà ông là “cha đẻ”. Nhưng ông bảo, “đó chỉ là thứ ước lệ, để tiện nhận mặt những sản phẩm làm ra bằng công sức và tấm lòng của rất nhiều người. Một cá nhân, sao đủ sức xây lên cả tòa tháp đồ sộ đến thế, vậy mà người ta vẫn gọi ước lệ là tháp Eiffel đó thôi”.

 

 

“Dám nghĩ khác”

 Nhà khoa học, trong quan niệm của Hồ Ngọc Đại, đơn giản chỉ là người “phát hiện ra một cái vốn có sẵn đấy, nhưng không ai nhìn thấy được, mà thôi”. Ông không đồng ý, nếu ai đó gọi mình là một cá nhân bứt phá, bởi “không có ai là người đi trước thời đại cả, may ra chỉ có thể đi trước số đông thôi. Ai cũng là con đẻ, là sản phẩm của thời đại mình mà thôi. Có thể một vài người trong số đông đó ngoi lên được nhờ biết đi theo xu hướng đúng đắn của thời đại ấy. Trong lĩnh vực giáo dục, tôi là một trong số ngoi được lên và làm đến cùng những gì mình tâm huyết, mình cho là đúng”.

 Ngoi lên, bởi ông luôn dám nghĩ khác. Sau những giây phút ban đầu choáng váng trước mô hình thực nghiệm hoành tráng tại Liên Xô, ông lờ mờ nhận thấy các thầy của mình vẫn dùng công cụ mới để chuyển tải những vật liệu cũ, ông đã quyết định, bình mới thì rượu cũng phải mới. Chỉ có hai thầy dám “đặt cược niềm tin” vào chàng thanh niên Hồ Ngọc Đại, số đông còn lại phản đối.

 “Tôi thay đổi hẳn về nguyên lý giáo dục chứ không quẩn quanh với mấy thứ lặt vặt. Thông thường, trẻ vào lớp 1 học đếm, rồi học làm bốn phép tính trong suốt bậc tiểu học. Cứ thế cho tới năm thứ ba đại học, sinh viên toán mới được biết tới khái niệm phép toán. Tôi bảo, quy luật của tư duy là đi từ trừu tượng đến cụ thể, từ tổng quát đến chi tiết, từ đơn giản đến phức tạp, thì sao không thử đưa phép toán ngay từ đầu, xem chuyện gì sẽ xảy ra. Người ta bảo không tưởng. Tôi bảo, nếu ý tưởng đó đúng, tôi sẽ tìm ra cách làm”. 

 Ông đưa ra công thức “thầy thiết kế - trò thi công”, tức là đã kèm theo một nguyên tắc vàng: cấm đưa đến những sản phẩm làm sẵn, rồi bắt học sinh ghi nhớ. Học sinh tự mình làm ra sản phẩm giáo dục cho chính mình, nhờ vậy mà trở thành một cá nhân duy nhất, có một không hai trên hành tinh này. Có vậy mới có thể tạo ra những bộ óc sáng tạo, bộ óc vũ trang chứ không phải là bộ óc chất đầy.

 “Tôi mong mình được như anh hùng Núp. Chỉ nhờ ông bắn Pháp chảy máu mà dân làng Kông Hoa mới có được niềm tin chống giặc.  Mô hình thực nghiệm, cho dù nay được nhân rộng, ngày mai có thể lại thu hẹp thì cũng sẽ là một hình ảnh trực quan giúp xã hội nhìn nhận được những gì tốt đẹp mà trẻ em có thể được hưởng, cứ đi từ thiểu số đến với đại đa số”.

 “Không lấy  người dạy và việc dạy làm trung tâm mà phải lấy trẻ em và việc học làm trung tâm, lấy hạnh phúc của trẻ em làm lẽ sống” – tôi nghĩ, đứa trẻ nào đã và đang là học sinh của thầy Đại cũng thấy mình vô cùng may mắn. Bởi “tôi cho rằng phải tìm sai lầm của trẻ em ở bên ngoài trẻ em, tức là trong người lớn, trong mỗi chúng ta, trong giáo dục, xã hội chứ không thể chỉ lên án các em. Trẻ yêu ghét ai là do tự thân chứ không thể ép buộc được. Người lớn vốn là một đại lượng đã biết, anh có gì thì đã có, nay mai có thêm cái gì cũng là vô nghĩa bởi vì cái chất (nhân cách) đã xong rồi. Trẻ em là một đại lượng còn bỏ ngỏ, còn đợi một quá trình hình thành và phát triển về nhân cách, vốn phụ thuộc vào nhiều yếu tố xã hội và đang thay đổi mãnh liệt hàng ngày hàng giờ. Do vậy, lấy chuẩn của người lớn áp đặt cho trẻ là không đúng”. 

   Và “làm khác”

 Ngày mới về nước, trong một bài viết đăng trên báo Tổ quốc, ông viết, “Lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc VN như con thuyền cứ lững lờ trôi trên dòng sông hiền hòa, đổ từ thượng nguồn ra tới cửa biển. Suốt dọc hành trình dằng dặc đó, thuyền cứ nương vào bờ bãi, vào làng mạc ruộng đồng ven sông. Rồi có một ngày, thuyền thấy đại dương ngay trước mặt. Cắm sào neo lại hay đi tiếp? Nếu muốn đi tiếp và đủ sức chống chọi với phong ba bão tố ở biển khơi thì phải đổi lái, đổi thuyền”. Bài báo ấy đã được cấp dưới đặt lên bàn bố vợ của ông - Tổng bí thư Lê Duẩn. Số đông thường nghĩ ông may mắn, khi có sẵn cơ hội nương nhờ cái bóng quá lớn của nhạc phụ. Chỉ ông mới hiểu, điều may mắn nhất là có ông bố vợ không bảo thủ, dám chấp nhận cái mới và luôn thấu hiểu, ủng hộ những cách “nghĩ khác” của con rể. Câu nói của Tổng Bí thư, sau khi đọc hết bài báo có nội dung khá “nhạy cảm” ấy đã khiến ông không bao giờ quên. “Viết thì được nhưng giọng văn còn học trò lắm. Ở tuổi con, tiến sĩ Các Mác đã chín chắn lắm rồi”. Ý tưởng thì tốt, nhưng cách thực hiện - cho dù “làm khác” thì phải “chín chắn” hơn, ông hiểu.

 Năm 1978, trường tiểu học thực nghiệm chính thức ra đời. Và sau đó dần đã phát triển cả ba cấp học. Sau rất nhiều những “có rồi lại không” áp dụng, tới niên học 1999-2000 đã có tới 43 tỉnh thành - hàng ngàn trường học, hàng vạn giáo viên và hàng chục vạn học sinh tiếp nhận Công nghệ giáo dục. Với Nghị quyết cả nước dùng một bộ sách giáo khoa, công nghệ ấy đã một lần bị “bức tử”. Nhưng từ năm 2008-2009, BỘ GDĐT lại cho đưa nó về với học sinh dân tộc thuộc ba Tây (Tây Bắc - Tây Nguyên - Tây Nam Bộ), với số học sinh lên đến 15000.

 Học sinh giờ đến trường oằn lưng với gánh nặng bài vở, với áp lực điểm số, cắm mặt chạy theo cuộc đua thành tích của người lớn, lấp đầy chút thời gian rảnh rỗi vô cùng hiếm hoi còn lại trong ngày bằng những buổi học thêm. Về nhà lại tiếp tục học, học cho tới giờ đi ngủ. Tuổi thơ bị cướp mất, những đứa trẻ với cái đầu lèn chặt kiến thức “học gạo” đã mất hẳn nét hồn nhiên, tinh nghịch tuổi thơ ngây.

 Trường thực nghiệm của GS Hồ Ngọc Đại làm khác. Không sợ điểm kém, không một áp lực - từ thầy cô tới phụ huynh lẫn học sinh. Trẻ em không phải nói dối, việc học không là gánh nặng mà là niềm vui. Vì thế, không lạ, số đơn xin học mỗi năm bao giờ cũng gấp chục lần chỉ tiêu tuyển sinh. Và rất nhiều phụ huynh mong ước con em mình được lớn lên trong môi trường giáo dục trong lành như vốn phải có ấy.  

 Ngày mới về nước, ông cho ra đời cuốn sách với tựa đề Dỡ ra làm lại từ đầu (đã bị thu hồi ngay sau khi phát hành). Nhưng cho tới tận bây giờ, sau hơn ba thập kỷ gắn bó với công nghệ giáo dục, ông vẫn khẳng định, “phải làm lại từ đầu và làm từ lớp Một. Những gì đã qua, đã lỡ rồi thì đừng loay hoay cố công sửa chữa nữa. Hãy bắt đầu từ lớp Một, đừng sớm hơn. Tại sao ư? Những năm đầu đời là vô cùng quý giá, hãy để trẻ được sống với thiên nhiên, để các em có thời gian tối thiểu để quan sát, tưởng tượng những gì đang diễn ra trong môi trường trong lành ấy. Ngay cả hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo thực ra cũng là vì lợi ích của người lớn mà thôi”. 

 Bởi với thầy giáo Hồ Ngọc Đại, “trẻ em là thiêng liêng nhất, là cứu tinh của cả dân tộc”.

 

GS, TSKH HỒ NGỌC ĐẠI - VIỆN TRƯỞNG VIỆN CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC

 ● Sinh năm 1936. Tốt nghiệp khoa Toán - ĐHSP Hà Nội năm 1960

● Làm luận văn Phó tiến sĩ, rồi TSKH chuyên ngành Tâm lý học tại ĐH tổng hợp Lơmanôxốp, lần lượt, năm 1972 và 1976. Nhận học hàm giáo sư năm 1984.

● Là tác giả một số đầu sách về giáo dục như Tâm lý học dạy học, Bài học là gì, Giải pháp giáo dục, Kính gửi các bậc cha mẹ, Công nghệ giáo dục - 2 tập, Cái và Cách, Công nghệ học, Giáo dục tiểu học đầu TK XXI….

  Chủ trì một số đề tài, dự án cấp Nhà nước và UNDP như Mô hình nhà trường tối ưu cho trẻ em VN, Nghiên cứu tự học ở bậc trung học, Giáo dục môi trường trong trường phổ thông VN.

● Những công trình được áp dụng trong thực tiễn liên quan đến đề tài: Phương án công nghệ giáo dục (tại 43 tỉnh / thành trên cả nước, từ 1984 đến 2002), Giáo dục môi trường (64 tỉnh / thành, từ 1996 đến 2003).

● Ông vừa nhận Giải thưởng Văn hóa Phan Châu Trinh 2009 (lĩnh vực giáo dục) vào ngày 24/3/2010.

Hồ Cúc Phương - Ảnh: Nguyễn Đình Toán
Bình luận

TIN TỨC LIÊN QUAN