Kon Mahar

Xin nói ngay, chả phải chuyện tây tàu gì đâu, Kon Mahar là tên một cái làng của người Bahnar, rất đẹp dù nó thuộc diện vùng sâu vùng xa mà tôi sẽ kể ngay dưới đây.

Tỉnh Gia Lai có 2 cái làng rất xa ở 2 cái huyện rất gần tỉnh lỵ mang 2 cái tên rất lạ là Hà Tây và Hà Đông. Tôi cũng chưa lý giải được tại sao nó lại mang cái tên đầy chất Kinh như thế, trong khi có những địa danh lẽ ra nên mang tên Kinh thì lại cứ phải dân tộc cho người ngoại... tộc đọc trẹo cả mồm như Kon Yỡng (đọc là Kon Tầng), Ayun Pa (đọc là A Dun Pa nhiều người cứ đọc là A I Un Pa), Chư Pưh (đọc là Chư Pứ), Chư Păh (đọc là Chư Pả)… vân vân...
8 giờ sáng xuất phát từ Pleiku thì đúng 12h trưa chúng tôi đến trung tâm xã Hà Đông. Cách đây chừng hai chục năm, tôi nhớ mình đã một lần đến đây. Hồi ấy ngồi trên thùng một cái U oát tải, và chúng tôi hì hục phải 2 ngày mới đến được làng. Là chúng tôi tổ chức vừa đi thực tế vừa chiếu phim phục vụ bà con. Tôi trực tiếp thuyết minh trong khi cái bản dịch thuyết minh bộ phim gì đấy của Liên Xô chỉ còn vài trang. Thế mà tôi đã thuyết minh trọn vẹn một bộ phim “Chiến đấu của Liên Xô” cho dân làng xem, hết phim rồi mà vẫn bắt chiếu lại, không chịu về. 

 

 


Khuya lên nhà rông, chỉ với 2 quả bầu nước lấy từ suối, tôi đã hoàn thành nhiệm vụ nấu nồi cháo gà. Nhờ một anh chàng thanh niên trong làng mua hộ con gà. Bà con không tính ký cân gì cả, cứ 50 đồng một con, leo lên cây bắt đúng con nào thì mình hưởng con ấy. Vậy nên chuyến đi  này tôi đã phì cười bởi một đồng nghiệp cũng rất yêu và viết nhiều về làng Tây nguyên lại đi hỏi ở đây gà bao nhiêu 1 cân? Bò thì tính theo em, bò 1 em, 2 em, 3 em… tức là lứa đẻ, heo thì tính theo nắm... Với 2 quả bầu ấy tôi đã phải rất “rón rén” khi vừa làm lông, rửa gà, vừa nấu cháo và còn phải chừa lại ít nước để ăn xong có cái mà súc miệng. Dân làng rất quý chúng tôi, rất muốn giữ ở lại, nhưng nhìn trời vần vũ đen kịt, chúng tôi đã phải đi như trốn chạy để không muốn cả bọn phải kẹt lại đấy hàng tháng trời. 
Khi về, nói đi Hà Đông ai cũng khiếp, nhiều người không tin, nhưng rõ ràng là chúng tôi đã đi và đã đến. Chưa kể hồi ấy còn rất nhiều Fulro, vừa đi vừa thon thót, và ai dám quả quyết trong số đồng bào ngồi đốt lửa xem phim kia không có vài anh chàng Fulro. Fulro hiểu một cách nào đó chính là những người dân chúng tôi gặp hàng ngày kia. Lúc nào cầm súng họ là Fulro, còn lúc lầm lì ngồi ở nhà hút thuốc nhổ vặt, họ lại là anh chàng bahnar chân chất nửa thân thiện nửa xa cách. Và hồi ấy chúng tôi còn chuyền nhau câu châm ngôn để sống là Fulro không bao giờ bắn chiếu phim, thầy giáo, bác sĩ… họ chỉ bắt và bắn công an, bộ đội, thuế vụ… và vì thế mà chúng tôi chơi hẳn cả một cái U oát tải, vừa đi vừa mở đường, mang theo máy chiếu phim và tổ chức chiếu phim. Vừa phục vụ đồng bào lại vừa làm… bùa hộ mệnh. Và tôi biết, 1 ngày 1 đêm chúng tôi ở xã Hà Đông ấy, xã thật sự là ngày hội, bởi chúng tôi có máy nổ, có điện (chỉ khi chiếu phim mới chạy máy nổ và có đèn), có phim và có… chúng tôi, cái giống người khá lạ khi ấy bởi quả tình là rất ít người Kinh vào đến xã thời kỳ này. 
Bây giờ thì vào xã đường ro ro, chỉ có đoạn phía ngoài là còn khó một tí, tất nhiên là mùa khô, chứ mùa mưa thì vào đây rồi rất khó để… trở ra. Cái trụ sở xã nổi bật trên đồi, xung quanh là trường học, y tế… tạo nên một quần tụ trung tâm. Chúng tôi chọn Hà Đông là bởi muốn tìm một thể nghiệm, vừa tìm vào một xã xa nhất, khó đi nhất để xem cái bản sắc dân tộc còn đến đâu, vì trong đoàn có rất đông anh em nghệ sĩ nhiếp ảnh, họ cần những cái nguyên sơ bản sắc. Mặt nữa cũng muốn mục sở thị sự đổi đời của đồng bào hôm nay, để mà so sánh với hai chục năm trước, tìm lại dư ba của ấn tượng, của cảm xúc, của những dấu ấn một thời... Là cái sự mâu thuẫn ngay trong một nhu cầu giữa phát triển và  bảo tồn. 

 

 


Vẫn biết không thể cứ khư khư ôm di sản để đói nghèo nhưng vẫn muốn có những bức ảnh nguyên sơ chân chất. Bản thân tôi là một tay máy nghiệp dư nhưng cũng đã rất khốn khổ khi chụp cái nhà rông mà phải tìm hết cách để tránh mấy cái dây điện mà không được. Chúng tôi chạy qua mấy làng, cuối cùng quyết định dừng ở làng Kon Mahar của xã Hà Đông. Trụ sở xã trông bề thế thế nhưng rất ít quán tạp hóa của người Kinh, dù chúng tôi đã xác định là chui vào những cái quán như thế, mua mì tôm và xin nước sôi rồi úp mì tôm ăn. Chuyện ấy là thường đối với dân công tác ở Tây Nguyên. Nếu đi ít thì bà con sẽ mời ăn, tất nhiên mình cũng phải biết điều để gửi lại bà con chút ít gì đó. Nhưng chúng tôi đến mười mấy người nên xác định không làm phiền cả xã và dân. Qua 2, 3 làng như thế thì đến nhà của anh Điệu, làng Kon Mahar. Và quả thật là chúng tôi đã may mắn khi ghé làng này.
Nó là của huyện Đắc Đoa, mà Đắc Đoa thì cách Pleiku... 15 cây số, nhưng từ huyện xuống làng này là 70 cây, đường đi hun hút xuyên qua rừng già Kon Ka King. Mùa khô thì vào được chứ mùa mưa là bó… chân chấm com. Các thầy cô giáo vào dạy mùa mưa thì cứ chuẩn bị tâm thế ở lại cả mùa. Cán bộ có muốn xuống với dân cũng chịu. Chủ tịch huyện Nguyễn Đức Hoàng hồ hởi khoe với tôi khi chúng tôi từ làng về gặp nhau ở Đồng Xanh, năm này sẽ hoàn thành con đường bê tông từ huyện xuống xã. Hiện tại chúng tôi đi thì thấy đang nham nhở từng đoạn, nhiều quãng chúng tôi phải xuống đi bộ cho xe qua một mình, nhiều quãng phải quay đầu tìm đường khác dù tài xế Phước là một tay lái khá lụa.
Và rừng, rừng nguyên sinh cũng nham nhở. Loang lổ những vạt rừng cháy. Lúc ra nghe rõ cả những tiếng nổ rất to từ những đám cháy ngùn ngụt. Chúng tôi hoảng hồn nhảy xuống xe chụp ảnh, còn những người Bahnar qua đường dửng dưng giải thích là... đốt rẫy đấy. Rẫy gì mà toàn cổ thụ cháy rừng rực. Cũng rất khó trách ai bởi tập quán ngàn đời là thế, lại ở sâu âm u thế, cán bộ, kiểm lâm có rải ra cũng không thể khắp được. Rồi lâm tặc người Kinh nhân đấy đánh hôi. Có một đoạn mấy thanh niên đang đốt than, chúng tôi lùi xe để ngồi trên xe chụp ảnh trong tư thế… sẵn sàng chạy vì sợ họ gây sự.

 

 


Đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đắc Đoa có 57.690 người. Trong đó người Bahnar 38.469 người, người Jrai 18.782 người, dân tộc thiểu số khác từ miền Bắc chuyển vào có 439 người, cư trú ở 15/17 xã, thị trấn của huyện, chủ yếu ở 05 xã vùng 3 và các xã vùng 2, đời sống vật chất và tinh thần còn khó khăn. Có một phần huyện nằm trên khu vực rừng quốc gia Kon Ka King. Xe chúng tôi nhiều lúc đi cheo leo trên các hõm núi, nhìn sang bên kia mây trắng xóa, lại có lúc tụt xuống thung lũng, ngước lên thăm thẳm trời. Tôi nghiệm ra, ở các làng dân tộc ấy, có 2 lực lượng cần được khen thưởng và có chính sách hỗ trợ họ. Một là các gia đình người Kinh "cắm bản" và hai là các cha cố đạo "cắm dân".
Bây giờ thì khắp hang cùng ngõ hẻm các làng đồng bào dân tộc xa tít tắp vẫn có ít nhất 1 nhà người Kinh bám trụ. Họ bán những gì đồng bào cần mua và mua những gì đồng bào cần bán. Họ làm chức năng lưu thông phân phối một cách ưu việt nhất mà nhà nước không thể kham. Nhưng chưa hết, họ còn là cái cầu nối của đời sống văn minh đô thị với đồng bào. Nhất cử nhất động đồng bào đều hỏi gia đình người Kinh này. Coi nhau như bạn bè, hàng xóm tốt bụng, những gia đình người Kinh bày cho đồng bào từ những cách thức sinh hoạt thông thường nhất cho đến những điều tế nhị nhất. 
Điệu kể: trước có con cá họ cứ đổ nước với muối vào nấu lõng bõng, giờ cũng biết phi hành mỡ nêm nếm gia vị. Cho đến việc giặt quần áo, tắm gội, vệ sinh phụ nữ, tránh thai, con cái dậy thì vân vân... Còn các cha cố, họ xuống làng, vùng tận sâu ấy, rao giảng và cũng tạo ra một "trung tâm" văn hóa của làng bằng các nhà thờ rất đẹp, mà nhà thờ làng Kon Mahar là ví dụ. Có cái lạ, nếu anh là cán bộ mà anh sống khác với đồng bào là bị dị nghị liền, nhưng cha đạo thì không. Ông này có cái nhà gác 2 tầng bằng gỗ rất đẹp, có ô tô đậu dưới sàn... như một sự đương nhiên. Và cái xe của chúng tôi đậu ngay dưới gốc cây bên cạnh nhà rông cũng chả thấy đứa trẻ con nào đến ngó…

 

 


Như đã nói, chúng tôi cương quyết không làm phiền cán bộ xã và dân làng, nên đổ bộ vào nhà vợ chồng Điệu. Anh này là dân thành phố Pleiku, từng "kinh  qua" các công việc xây dựng, nhận thầu các trường học ở vùng sâu vùng xa, công ty 2 sọt (sắm xe máy, chất tất cả hàng hóa lên đấy, kềnh càng chạy, vào làng càng xa càng tốt, bán cho đồng bào và mua cho mình, rất vất vả nhưng cũng có đồng vào đồng ra) và giờ thì “cắm bản”. Sau bao nhiêu năm đi khắp hang cùng ngõ hẻm phát hiện làng này có thể làm ăn được và chưa có người kinh nào ở, thế là dựng nhà ở. Bây giờ anh có ô tô, đến mấy chiếc, U oát và xe tải thôi, vì chỉ chúng mới có thể vào làng được. Xe để chở hàng. 
Lấy hàng từ Pleiku xuống, thượng vàng hạ cám, bà con cần gì thì cất xuống bán. Và mua lại những gì bà con bán. Không chỉ buôn bán đơn thuần, mà thực sự thì vai trò của những gia đình người Kinh này lớn hơn nhiều, ví dụ họ làm chức năng của… ngân hàng. Bà con không có tiền cứ đến lấy hàng, đến mùa trả bằng hàng, chủ yếu hiện nay là sắn. Nhờ cây sắn mà đồng bào tương đối sung túc. Tôi hỏi có hay bị… nợ khó đòi không, cười bảo ít lắm, vì đồng bào rất thật thà và mình thì cũng biết ăn ở, rằng là ở đây nhưng không chỉ chăm chắm kiếm tiền, dù rằng là ở để kiếm tiền. Sống phải biết mình biết ta thì mới sống được. 
Rồi họ làm công việc lưu thông phân phối hàng hóa 2 chiều, cái việc mà nhà nước làm mãi không được vì nó quá lắt nhắt và vi mô. Ở giữa làng mà cả 2 vợ chồng rất trắng trẻo phong độ. Vợ trang điểm rất kỹ và nấu phở rất ngon. Tụi tôi mỗi đứa một tô phở, 1 lon bia, xong đi tác nghiệp. Lúc quay lại lại có một đĩa thịt mang xào mềm xỉu và mỗi người lại thêm một lon bia, thế mà khi thanh toán tiền, chủ nhà dùng dắng mãi mới lấy... 500.000đ. Mười sáu người tất cả nhé.
Vào làng này tôi mới biết là sóng Viettet của điện thoại và 3G cũng của Viettel là khác nhau. Điện thoại thì gọi được phập phù, còn vào mạng từ iPad thì chịu, nên suốt ngày hoàn toàn mất liên lạc với thế giới bên ngoài vì điện thoại của tôi là Mobiphone và Gphone Vina... và quả thật, cái cảm giác bị cô lập vì không có điện thoại, không internet qua đi rất nhanh, bù lại là sự thơ thái, an lành, tịnh tâm với làng, với thiên nhiên trong trẻo…

 

 


Thực ra thì xã này có một người Jrai lọt thỏm vào cộng đồng Bahnar, ấy là bí thư Đảng ủy Y Djit, nguyên là bí thư huyện đoàn được tăng cường về làm bí thư xã đặc biệt khó khăn này. Hiện nay theo con số chúng tôi nắm được thì tỉ lệ hộ nghèo của xã còn đến 59,6%, trình độ dân trí khá thấp. Toàn xã có 140 ha lúa nước, 80 ha bắp, 450 ha mì, 150 ha bời lời và 53 ha cao su đang sinh trưởng. Được biết huyện Đắc Đoa đang có kế hoạch trồng 90 ha cao su tại xã Hà Đông thay cho đất trồng mì đã bạc màu. Cũng được biết UBND huyện Đắc Đoa đã tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất kêu gọi các doanh nghiệp, cá nhân đầu tư vốn vào phát triển trồng cây cao su, trồng rừng nguyên liệu, nhưng kết quả không có doanh nghiệp nào đầu tư tại địa bàn xã Hà Đông. Nguyên nhân thì ai cũng hiểu là do khó khăn quá, hy vọng khi con đường hoàn thành, mùa mưa xã không còn bị cô lập nữa tình hình có khác chăng?
 Theo anh Điệu nói thì mấy năm nay dân ở đây khá lên rất nhiều vì giá mì (sắn) tăng. Có thể không tin các số liệu báo cáo ở trên chứ ông Điệu này nói thì tôi tin, rất tin là đằng khác. Khôn ngoan nó bày ra mặt, què quặt nó hiện ra chân tay, dân đây thu nhập no đói thế nào thì cái hàn thử biểu là cái quán nhà ông Điệu đây đo được hết. Ông bảo dân mà đói thì nhà ông cũng khổ chứ chả sướng gì. Họ giàu lên, có đồng ra đồng vào thì ngoài việc buôn bán khấm khá, cái cuộc sống trước mắt kia, trong từng ngôi nhà của cái làng xúm xít chung sân này, nó cũng tươi lên, không ủ ê cấm cẳn trước mặt mình. Cứ hình dung cái cảnh chỉ duy nhất một gia đình người Kinh lọt thỏm giữa cái làng đồng bào heo hút thế mà ái ngại, nhưng té ra là vợ chồng Điệu lại chả lấy gì làm lăn tăn, vẫn cứ cười phớ lớ, vẫn rất kẻng như đang dạo phố Pleiku. 
Trước khi vào làng Kon Mahar, chúng tôi đã dạo qua các làng Kon Sơ Nglok, Kon Nak, thấy cách làm nhà sàn và kết cấu làng ở đây khá giống với kiểu nhà Bahnar của người Bahnar ở nội ô thành phố Kon Tum. Không đủ tư liệu và thời gian để tìm ra sự giống nhau ấy, bởi với người Tây Nguyên, các làng khá là biệt lập, sự lưu thông, kết giao là rất khó khăn - là nói thời xưa ấy, chứ giờ thì khác. Kon Mahar cũng có một cái nhà rông truyền thống rất lớn và đẹp, nhưng nó đã bị hỏng, gần sập. Ngay bên cạnh là một cái nhà thờ bằng gỗ, thiết kế giống hệt cái nhà thờ gỗ ở thành phố Kon Tum, tất nhiên độ bề thế thì không bằng, nhưng nên nhớ, đây là một làng rất sâu rất xa và đặc biệt khó khăn như đã nói…
Lần này khi về thì không phải đến mức chạy trốn như hai chục năm trước. Tivi có ở từng nhà, nên nếu chúng tôi có chiếu phim cũng chưa chắc đã có người xem. Nghệ sĩ nhiếp ảnh Hồ Anh Tiến rút ví lấy tiền lì xì cho các cháu, chúng nhận và chạy vù vào nhà vợ chồng Điệu mua bánh và nước ngọt kéo lên nhà rông liên hoan. Lần trước, ngay cả đến mấy người già chúng tôi gặp cũng chưa phân biệt được mệnh giá tiền…
Nhưng khi xe chạy khá xa, tôi trông lại, vẫn thấy vợ chồng Điệu tần ngần đứng…

Theo ghi chép của Văn Công Hùng
Bình luận

TIN TỨC LIÊN QUAN