• Zalo

Hồn Làng giữa Hà Nội

Tổng hợp Thứ Sáu, 26/04/2013 03:22:00 +07:00

Ngược dòng lịch sử khi mà thành Ðại La được Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô, nơi đây vẫn còn là những làng quê nông nghiệp mang đậm chất đồng bằng Bắc Bộ.

Ði khắp các phố phường Hà Nội, không khó để nhận ra rất nhiều cổng làng hầu như đã được tu sửa lại song vẫn mang trong mình nét đặc trưng của làng cổ Việt Nam. Giữa tấp nập phố xá, cổng làng còn tồn tại như một phần không thể thiếu của thủ đô.

Ngược dòng lịch sử khi mà thành Ðại La được Lý Thái Tổ chọn làm kinh đô, nơi đây vẫn còn là những làng quê nông nghiệp mang đậm chất đồng bằng Bắc Bộ. Qua một nghìn năm, quá trình đô thị hóa đã biến những làng quê nông nghiệp này thành phố phường với nền kinh tế thương nghiệp. Thế nhưng những nét rất đặc trưng của làng xã vẫn không hề mất đi mà còn tồn tại mãi cùng thời gian. Ðó chính là cổng làng.

 

Cổng là ranh giới vừa thực vừa ước lệ, nó còn thể hiện quyền uy của làng xã. Có làng dựng thêm bên cổng tấm bia với hai chữ Nho 下馬”(hạ mã) để nhắc nhở ai đi qua, ngay cả những người quyền quý cũng phải xuống ngựa để tỏ ý tôn trọng lệ làng. Thời loạn lạc cổng làng được đóng kín, nhất là ban đêm lại có thêm tuần phu canh gác. Cổng làng, lũy tre xanh trở thành những chiến luỹ. Khi thanh bình, cổng làng mang ý nghĩa khẳng định chủ quyền địa giới của địa phương, góp phần bảo tồn bản sắc văn hoá riêng như gương mặt của làng. Mỗi người con xa quê khi nhớ về quê hương là nhớ về hình ảnh cổng làng thân thương bên gốc đa, giếng nước như Bàng Bá Lân có viết:

 “Chiều hôm đón mát cổng làng

Gió hiu hiu đẩy mây vàng êm trôi…”

Theo lệ một làng phải có hai cổng. Cổng tiền (hay còn gọi là cổng trước) là cổng chính thường trổ về hướng Ðông Nam, hướng của gió lành, hướng của mặt trời mọc nơi đón nhận những gì tốt đẹp nhất - Ðón sự sống, đón phúc lộc vào ngôi làng. Cổng trước là nơi đón người đi làm đồng về, đón khách lạ, đón quan kinh lý, đón người đăng khoa đỗ đạt, đón kẻ tha hương cầu thực trở về bản quán và quan trọng nhất là đón dâu mới nhập làng.

Cổng hậu (tức cổng sau) thường trổ ra hướng Tây, hướng mặt trời lặn. Cổng hậu là cổng phụ mang hàm ý tiễn đưa. Người đã khuất sẽ được tiễn đưa bằng cổng sau. Người có tội bị làng phạt vạ cũng phải đi cổng sau. Cổng hậu có chức năng tống tiễn những gì không xứng đáng được tồn tại trong làng - ma quỷ, trộm cắp, bất lương... ra khỏi cõi sống, xua đuổi chúng vào cõi chết.

 

Cổng làng có thể mang dạng cổng tam quan hay còn gọi là tam môn, tức ba lối đi: một lối chính và hai lối ngách. Lối ngách dùng hàng ngày; chỉ khi có nghi lễ mới mở lối giữa. Thông thường thì cổng chỉ làm một lối xây vòm (cuốn tò vò) hoặc vuông góc. Cổng trước xây to lớn hơn, trên trán cửa thì ghi tên làng hoặc một câu liên quan đến địa phương đó, làm như bức hoành phi. Dù cho loại xây chỉ có một lối đi, cổng làng có thể xây thêm hai "cổng mã" hai bên, tức hình dáng như một lối đi nhưng xây bít đặc. Làng văn vẻ hoặc trù phú còn làm thêm câu đối vinh danh hoặc ca tụng lịch sử làng.

Cũng như những công trình xây cất truyền thống khác, phép chọn phương hướng để xây cổng làng bị chi phối bởi học thuật phong thủy. Lý tưởng nhất thì cổng trước nhìn ra hướng đông, cổng sau ra hướng tây.

Vật liệu xây là gạch hoặc đá đắp thêm vữa, trên làm mái. Cầu kỳ thì làm hai tầng mái (chồng diêm) hoặc xây gác giống vọng lâu với mái cong. Nóc mái thì đắp rồng, phượng, cá hóa long, quả bầu v.v. Làng nghèo thì cổng chỉ bằng gỗ tre.

Khu vực quanh Hồ Tây chính là nơi có nhiều cổng làng nhất, đặc biệt là cuối phố Thụy Khuê mà người ta quen gọi là Kẻ Bưởi. Ðó là cổng của làng Làng Ðông Thái, Làng Hồ Khẩu, Làng Thọ, Làng Yên Thái, Võng Thị, Trích Sài.... Người dân ở đây quen gọi bằng những cái tên rất mộc mạc gần gũi, đấy là cổng Giếng, cổng Hầu, cổng Chùa, cổng Ðông, cổng Cái, cổng Xanh...  Những cổng làng này có cùng kiến trúc tam quan, có bậc tam cấp để lên xuống. Ngoài ra ở những khu vực khác cổng làng tuy không xuất hiện nhiều như nơi đây nhưng nó vẫn có những vẻ đẹp riêng: Cổng làng Ðại Yên có nghề thuốc nam giờ nằm sâu hun hút trong con ngõ nhỏ ngoằn ngoèo phải tìm rất lâu mới thấy; cổng làng Vĩnh Phúc nằm thu trên một con ngõ dốc thoai thoải trên đê Hoàng Hoa Thám; cổng làng Thành Công nằm "sát nách" với khách sạn sang trọng - nơi dừng chân của nhiều khách quốc tế; cổng Ða Lộc phía làng Vòng cứ thu về là có đôi bà cụ bày thúng cốm với lá sen và rơm mới tinh khôi; cổng làng Vĩ Hậu trên đường Cầu Giấy, cổng làng Ðông Các trên phố Nguyễn Lương Bằng, cổng làng Mọc phía Thanh Xuân...

 

Bố cục thường gắn bó với cổng làng là cây đa nên biểu tượng chung của làng quê Việt Nam là: cây đa, giếng nước, sân đình vì đó là ba nơi tụ họp của mọi tầng lớp xã hội nông thôn. Sau những chiếc cổng làng, một cuộc sống thân thương, mang nét đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ đang diễn ra. Bà con ngồi cùng nhau trò chuyện, các ông già chung vui đánh cờ, lũ trẻ xôn xao nô đùa… Chiếc cổng làng có đôi chút rêu phong trong lòng phố là một biểu tượng, là niềm tự hào của mỗi con người sống trong làng xóm. Những chiếc cổng làng ở Hà Nội như nhắc ta về một thời kỷ niệm, nhắc người viễn xứ hãy nhớ về Hà Nội như một người con cưng của miền Bắc Bộ. Mặc cho thời gian có phủ trôi đi bao nét xưa cũ của xóm làng, những chiếc cổng vẫn đứng sừng sững đầy oai nghi. Dù đồng ruộng đã trở thành khu nhà khang trang, nhà ngói đã lên nhà cao tầng, dù nhiều làng nghề của Hà Nội đã bị mai một thì cổng làng vẫn giữ được vẻ đẹp vốn có của mình.

Đinh Nha Trang


Bình luận

Bạn chưa nhập đủ thông tin

Cùng chuyên mục

Chung sức cứu trợ đồng bào vùng hạn mặn

Chung sức cứu trợ đồng bào vùng hạn mặn

Để hỗ trợ cho đồng bào vùng hạn mặn, Trung ương Hội Chữ thập đỏ Việt Nam phối hợp với Cổng 1400 phát động ủng hộ nhắn tin “ Nước ngọt và sinh kế cho đồng bào bị ảnh hưởng bởi hạn hán, xâm nhập mặn” từ 7/4 đến hết ngày 5/6/2016 với cú pháp NC gửi 1407

Đọc nhiều