Hoàng Sa những ngày lênh đênh

"Nếu không may bị tàu Trung Quốc bắt giữ, phát hiện anh đem theo máy quay, chắc chắn anh khó có đường trở về. Vì vậy, trường hợp xấu nhất, có thể phải vứt bỏ toàn bộ máy móc xuống biển, nếu như anh muốn bảo toàn mạng sống…"- Bỏ lại lời cảnh báo của những ngư dân, bỏ lại phố phường tấp nập, Minh Hoàng vẫn quyết định lên tàu ra khơi, lướt theo tiếng gọi của Hoàng Sa…

Ngày… tháng 08 năm 2010

Vậy là sau những ngày lang thang ở các bến cá, bến tàu làm quen thủy thủ, thuyền trưởng để người ta có thể tin tưởng cho mình lên tàu, tôi đã có cơ hội để thực hiện điều mình mơ ước- một lần ra biển Hoàng Sa.

 

Tại cảng cá Thọ Quan- Đà Nẵng hôm nay, các thành viên trên con tàu đánh bắt xa bờ DNA 90369 đang hoàn thành nốt những công việc cuối cùng để chuẩn bị lên đường. Hàng ngàn cây đá được chất xuống khoang tàu. Nước đá vừa để bảo quản cá vừa để tàu đủ trọng tải, chạy êm hơn trên sóng gió biển xa. 3000 lít dầu diesel được bơm vào các thùng phuy xếp dưới hầm tàu. Đó là số lượng vừa đủ cho cuộc hành trình của 90369. Nước ngọt, lương thực phẩm và chất đốt, tất cả phải được tính toán cẩn trọng để vừa đủ diện tích chật hẹp của khoang tàu, vừa đủ nuôi sống 13 người trong chuyến ra khơi. Rất may, những ngư dân trên con tàu 90369 không kiêng con số 13 và tôi trở thành thành viên thứ 13 của thủy thủ đoàn.

Lần đầu tiên ra biển, lần đầu tiên một mình với máy camera du lịch, trải nghiệm một lần giữa sóng biển quê hương, tôi được cùng ăn cùng ngủ, cùng vui buồn với dây câu mẻ lưới. Càng sung sướng hơn khi biết tàu sẽ đánh bắt chính ở vùng biển Hoàng Sa. Được sự đồng ý của thuyền trưởng, tôi không khỏi háo hức lạ thường. Những thắc mắc của tôi về cuộc sống trên biển chỉ nhận được những tràng cười giòn tan với câu nói "Cứ đi rồi khắc biết!" của anh em thuyền viên.

Nghề đi biển, nhất là đánh bắt xa bờ tại Hoàng Sa luôn tim ẩn những hiểm nguy, may rủi. Tài sản, tính mạng phụ thuộc vào thiên nhiên nên việc cúng bái được thực hiện như một ý niệm tâm linh. Thế giới tâm linh như sức mạnh nhiệm màu giúp họ vượt qua tai ương của biển cả luôn rập rình ngoài vùng biển xa. Sau khi tiền và vàng mã đã hóa, giờ tốt điểm, tàu nhổ neo lên đường.

Ngày… tháng 08 năm 2010

Rời cảng Tiên Sa, đội tàu nhằm biển khơi thẳng tiến, bờ lùi dần, Đà Nẵng lùi dần. Phía trước là biển cả bao la, xanh ngắt một màu. Ở vĩ độ 16 Bắc, hướng thẳng về Hoàng Sa, tàu mở tốc. Tàu 90369 làm nghề lưới vây. Đêm đến tàu có dàn đèn công suất lớn, sẽ thu hút cá đến tập trung gần tàu, sau đó thả lưới vây xung quanh. Thuyền trưởng cho thuyền chạy khoảng 6 hải lý/h, đây là tốc độ hải hành phù hợp nhất để tiết kiệm dầu. Với tốc độ này khoảng 3 ngày 3 đêm liên tục chúng tôi sẽ có mặt ở ngư trường. Những ngư dân bắt đầu chuẩn bị ngư cụ, vá lại lưới. Không chỉ thuyền trưởng mà các thuyền viên trên tàu cũng có thể thay nhau lái. Trên biển sẽ có được tầm nhìn bao quát nên có thể thấy rất rõ nhiều hình thái thời tiết khác nhau, vì thế mà tàu đã tránh được những vùng mưa giông, sóng lớn. Mặt biển mênh mông không bến bờ. Không có bất cứ thước kẻ nào vạch được cái đường biên hình học duy lý lên bề mặt của đại dương biển cả lúc này. Con tàu nhỏ bé của chúng tôi như một chiếc lá trôi bập bềnh giữa biển. Đôi khi cảm cảm giác như tàu đang đứng im, mãi không nhích lên được ki lô mét nào. Đứng bám vào lan can tàu, nhìn xuống mặt biển mông mênh đen kịt, cảm giác trong tôi thật sự rợn ngợp.

 

Sau 2 ngày đêm, tàu đã ra đến vùng biển xa bờ, nước đã khá sâu, độ sâu ở khoảng 200m, đã bắt đầu có thể thả câu. Câu cá trên biển rất khác câu trên đất liền, lưỡi câu được kết thành dàn hàng trăm chiếc. Có hai hình thức câu, có mồi và không mồi. Trong lúc tàu đang chạy thì câu không mồi là thích hợp nhất. Dàn câu được thả xuống biển, kéo theo tàu các tua rua xanh đỏ được kết vào lưỡi câu để thu hút cá. Những dàn câu được thả xuống nước khiến tôi thắc thỏm đợi chờ. Nhưng chỉ ngay sau đó, chú cá đầu tiên đã được kéo lên tàu. Một chú cá dũa rất đẹp, báo hiệu một chuyến đi may mắn.

Ngay lập tức, anh em thuyền viên mổ để nhậu. Những ngày đầu, khi còn đủ rau và gia vị, ăn cá tươi giữa mênh mông sóng nước, trên đời thật chưa có cao lương mĩ vị nào bằng. Nhìn vẻ mặt thích thú của tôi, anh em thuyền viên bảo "yên tâm, trong suốt chuyến đi này sẽ biết thêm nhiều thứ hay ho nữa". Và quả thật, tôi đã không thất vọng về sau. Trong lúc tàu chạy, anh em thuyền viên thường lên nóc cabin ngồi, vừa để nghỉ ngơi vừa để… ngó cây. Nếu trên biển có những khúc cây trôi nổi lâu ngày sẽ có nhiều đàn cá tụ tập xung quanh, nhiều tàu may mắn phát hiện cây trôi, chỉ cần một mẻ lưới đã được đầy khoang. Không ai bắt mình phải làm, nhưng tôi vẫn vui vẻ thò tay đỡ cá, kéo lưới, phụ giúp cơm nước và được thử qua tất cả công việc trên tàu. Những ngày trên tàu, tôi đã trở thành một ngư dân thực sự. Mọi sinh hoạt trên tàu đều khiến tôi tò mò. Và phát hiện thích thú nhất có lẽ là công vịêc giặt quần áo của anh em thuyền viên. Rất đơn giản! Chỉ cần tống hết quần áo bẩn vào túi lưới, buộc chặt vào đầu dây và ném xuống biến. Con tàu lướt nhanh về phía trước, kéo theo những túi đồ cứ được "gột rửa" dần.

Ngày 02 tháng 09 năm 2010

Thật trùng hợp và thiêng liêng, đúng 6h sáng ngày mùng 2 tháng 9, tàu vào đến địa phận Hoàng Sa. Vậy là tôi và các thủy thủ của 90369 đã có mặt trên vùng chủ quyền của tổ quốc đúng ngày quốc khánh. Nơi đây, chỉ cách đảo chính Hoàng Sa 15 hải lý về phía Tây. Nhìn xuống mặt đại dương xanh ngắt một màu, ở dưới đó, tôi biết, hàng trăm năm trước là thân cốt của những người lính thú hải đội Hoàng Sa. Tổ quốc luôn trong lòng của họ, của tôi và của những ngư dân ngày nay đang canh giữ chủ quyền nơi sóng gió. Con số 15 hải lý là khoảng cách gần nhất mà các tàu cá Việt Nam có thể tiếp cận được với Hoàng Sa. Và hiểm nguy không chỉ đến từ thiên nhiên, giông bão, mà nó còn đến từ con người. Một con tàu ra tín hiệu xua đuổi. Xa xa từ trong đảo, một tàu chiến mở hết tốc độ, xông ra. 90369 bẻ lái gấp sang hướng Nam. Vào đến tọa độ này đã là vô cùng mạo hiểm. Chỉ 15 hải lý mà sao mơ ước được đặt chân lên bờ cát vàng của tôi, bây giờ, lại quá xa xôi đến thế.

 

Biết là nguy hiểm luôn rình rập nhưng trên vùng biển này, không lúc nào vắng bóng những tàu cá của người Việt Nam. Xa xa, một tàu cá của Quảng Ngãi cũng đang đánh cá bằng lưới cả. Tôi chợt nghĩ, những cáo buộc của Trung Quốc cho rằng ngư dân Việt Nam hay đánh cá bằng mìn là hoàn toàn thiếu căn cứ. Trên biển cả bao la, ngay cả với những thiết bị hiện đại như máy tầm ngư cũng khó xác định vùng nào có cá thì một vài trái mìn ném xuống biển không có ý nghĩa gì cả. Đấy chỉ là những cáo buộc để bắt bớ và ngăn cản sự có mặt của người Việt Nam ở đây.

Ngày … tháng 09 năm 2010

Tàu vẫn tiếp tục chạy. Mọi người tranh thủ câu cá và nghỉ ngơi. Những giờ phút thư thái để yên giấc ngủ hay thảnh thơi ngồi chơi vài ba ván bài không có nhiều trong suốt chuyến đi. Những người ngư dân thường nói với nhau câu cửa miệng "Nghề đi biển… bạc!". Không hiểu lắm nhưng sau này, tận mắt nhìn thấy những giọt mồ hôi của thuyền viên giữa đêm tháng 9 mùa thu, những bàn tay nứt nẻ, bong ra thành mảng, tôi mới thấm thía. Để rồi băn khoăn tự hỏi không biết nước biển tự nhiên mặn hay chính mặn bởi mồ hôi của những ngư dân thương khó đổ xuống suốt ngàn năm qua.Đã đến vùng biển ngư trường chính, tàu thả neo cố định tại điểm đỗ. Bây giờ mới hiểu tại sao trong những đồ chuẩn bị cho chuyến ra khơi, 90369 lại mang theo muối. Muối và vàng mã được thả xuống biển để cầu may. Biển cho muối, những ngư dân lại trả muối về với biển như một nghi thức trả nghĩa cho biển đã nuôi sống họ bao đời. Trong hầm tàu đặc mùi khói dầu diesel và tiếng máy nổ. Anh em thuyền viên tranh thủ ngủ lấy sức. Rất may là tôi không say sóng và cố gắng thích nghi nhưng vẫn không thể quen được như mọi người trên thuyền. Nói không quá thì đối với ngư dân tàu là nhà, còn biển là quê hương.

 

Nghề lưới vây dùng đèn để thu hút cá nên lưới chỉ được thả vào ban đêm. Ánh đèn công suất lớn đã thu hút rất nhiều sinh vật lạ, tưởng như có thể dùng vợt để vớt dễ dàng. 2h sáng, máy tầm ngư báo cá đã tập trung khá nhiều. Đã đến giờ thả lưới. Đèn pha trên tàu tắt dần. Một phao có gắn đèn được thuyền thúng kéo ra xa để thu hút cá. Sau đó tàu chạy vòng quanh vây lưới. Một bộ lưới vây thường dài 500m và rộng 50m. Khi lưới đã vây vòng quanh, dây ở đáy sẽ được rút lên tạo thành túi lưới. Công đoạn này mất khoảng 30 phút. Việc tiếp theo là kéo lưới lên từ từ, kéo đến đâu gỡ cá và xiết gọn đến đó. Những bàn tay nhễ nhại, thoăn thoắt. Này thì cá sọ dừa, cá nhồng, cá khế, cá nục, cá ngừ.


Sự giàu có và hào phóng của biển cả khiến niềm vui rạng rỡ trên khuôn mặt mọi người. Từng mẻ cá dần phơi màu, sáng lấp lánh. Tiếng cá quẫy tành tạch đánh thức cả bình minh. Trong đời tôi chưa bao giờ được nhìn thấy nhiều cá đến thế, trông thật no mắt. Làm miết từ 2h sáng đến giữa trưa mới xong việc, vất vả là vậy nhưng anh em cũng chỉ ăn vội bữa cơm trưa, không kịp nghỉ ngơi, đầu giờ chiều lại tổ chức buông câu quanh tàu. Lúc này sẽ câu bằng mồi, là những con cá nục được bắt ban sáng, đã cắt nhỏ. Dàn câu được thuyền thúng thả xuống độ 60m, ngay trên rặng san hô phía dưới. Đủ loại cá, cá đuối, cá ngừ và có cả những loài cá rất đẹp và rất độc. Nhìn con cá nóc gớm ghiếc, mặc dù hết sức tin tưởng vào kinh nghiệm chế biến của những người ngư dân nhưng tôi vẫn không dám thử một miếng.

Thời tiết trên biển cũng rất đặc biệt. Dù không có bão nhưng khi có biển động mạnh, tàu lắc lư dập dềnh, nhưng cũng có hôm biển êm như lướt trên sông, không một con sóng. Mấy anh em lôi nhau nhảy ùm xuống mặt nước xanh ngắt, tranh thủ tắm táp. Mỗi lần ngụp mặt xuống, nhìn chòng chọc vào màn nước sâu thẳm, nỗi sợ khiến tôi không dám bỏ phao ra, mặc dù khả năng bơi lội không tồi. Những lúc ấy mới cảm thấy con người thực sự bé nhỏ trước thiên nhiên, biển cả mênh mông.

 

Ngày… tháng 09 năm 2010

Tàu lại đốt đèn đánh cá. Nhưng đầu xuôi đuôi chẳng lọt. Máy phát điện hỏng, không có đồ dự phòng, được nghỉ, ngắm trăng trên biển đẹp mà lòng người chẳng vui. Mờ sáng, tàu mở hết tốc lực sau khi liên lạc xin trợ giúp. Cũng may ở vùng biển này có nhiều tàu cá Việt Nam. Những con người xa lạ, chẳng hề quen biết nhau thế mà nhanh chóng vui vẻ thân thiết như anh em, bạn bè. Giúp nhau chút đá ướp cá hay mời nhau lon bia cũng là cách để chia sẻ khó khăn và cũng là niềm vui sau nhiều ngày trên biển. May mà cũng có tàu khác mang theo đồ. Được sự trợ giúp của tàu bạn, cuối cùng sự cố cũng đã được khắc phục. Ngư dân Việt Nam có nhiều điều thật lạ. Cạnh tranh đánh bắt, giấu ngư trường nhưng cũng sẵn sàng xả thân vì đồng nghiệp khi cần. Quay lại nơi neo đậu ban đầu, ngày thứ 7 trên biển, tàu lại chong đèn. Đêm nay thật lạ, nhiều sinh vật biển đến hơn, nhiều loài lần đầu tiên tôi được thấy như rắn biển, bạch tuộc và mực ma. Lạ hơn nữa là chim. Những loài chim tìm đến tàu làm nơi trú đậu. Nhiều con trong số đó ví như loài cò trắng gầy guộc đã chọn cách ở lại trên tàu mãi mãi. Sự mênh mông của biển nhiều khi cũng là giới hạn không thể vượt qua được, ngay cả với những loài chim.

 

Những tưởng đêm nay, biển sẽ lại cho nhiều cá. Nhưng không, biển có quy luật riêng của nó. Lưới trống, không có gì đáng kể, ngoài một chú cá heo. Anh em thuyền viên vội vàng gỡ lưới. Mặc dù là biểu tượng tình bạn giữa biển cả và ngư dân nhưng việc cá heo xuất hiện kiếm ăn sẽ xua hết các loài cá khác. Tuy nhiên, cá heo là vật thiêng của ngư dân nên không bao giờ họ bắt. Chú cá heo được hai ngư dân bế bổng lên và thả về với biển khơi trong tiếng cười hò reo của mọi người. Tuy nhiên, mấy đêm sau cũng vậy, cá heo lại tiếp tục vào "phá", nên cả đoàn không thể thả lưới. Lại ngồi nhìn nhau đốt thuốc. Tâm lý anh em cũng như bản thân tôi khá buồn vì nghĩ rằng biết đâu lỗi tại mình là con số 13.

Ngày… tháng 09 năm 2010

Nhưng biển không phụ người có tâm. Những ngày sau, tàu liên tục trúng cá. Có mẻ lên tới 3-4 tấn. Không có thời gian để xếp vào khay, cá tươi chỉ được nhấc lên rồi đổ xuống hầm tàu. Máy xay đá được phát huy hết công suất để bảo quản cá. Mệt mỏi vì làm việc xuyên trưa, không ăn uống, nhưng ai cũng vui. Cơm áo là đây, nguồn sống là đây.

Trên vùng biển Hoàng Sa giàu có thường tập trung nhiều tàu cá của các nước, nhưng thời gian này đang là mùa bão nên chỉ có tàu Việt Nam. Bão trên Hoàng Sa rất ghê gớm, phần lớn các cơn bão trên biển Đông đều đi qua đây. Chỉ ngư dân Việt Nam với lòng can đảm và am hiểu tường tận vùng biển quê hương mới dám bám biển mùa này.

Nhịp sống cứ diễn ra như vậy. May rủi, hôm được, hôm không.

 

Ngày… tháng 09 năm 2010

Ngày thứ 20 lênh đênh trên biển, các hầm tàu đã đầy cá. 20 tấn cá ngừ, cá nục. Tàu nhổ neo, hướng về bờ. Do không gặp may nên chuyến đi kéo dài hơn dự kiến. Khi trở về, gạo đã gần hết nên mọi người đành ăn cháo cá. Nước ngọt cũng đã gần cạn, chỉ đủ để uống. Tắm rửa chỉ là công đoạn lấy khăn thấm nước lau người, nên lúc nào cũng cảm giác dính dính, nhớp nháp. Thiếu thốn nhưng vì sắp trở về nên tâm lý ai cũng hồ hởi. Chiếc máy quay du lịch con con của tôi tỏ ra ngoan ngoãn và hợp tác khi suốt chuyến đi không trục trặc gì, mặc dù cứ quay một lúc là hơi muối lại bám đầy ống kính.

Đi ngang qua huyện đảo Hoàng Sa vào lúc đêm. Thật khó để diễn tả cảm giác phẫn nộ xen lẫn buồn tủi khi nhìn thấy những ngọn đèn xa xa trên đảo, trên tàu thăm dò của nước ngoài. Con tàu cứ thế chầm chậm trôi đi trong bóng đêm dày đặc. Tất cả đèn trên tàu đều được tắt, âm thanh duy nhất chỉ là tiếng máy nổ của chiếc tàu bị sóng biển ầm ào nuốt chửng. Lại mất 3 ngày 3 đêm để về bờ. Đà Nẵng đã rất gần, gia đình đã rất gần và phía trước chúng tôi là niềm vui sum họp sau chuyến đi dài đánh bắt xa khơi.

Đặt cả hai chân lên bờ, tôi mới thật sự hoàn hồn và thở phào nhẹ nhõm. Không phải không để ý những lời dặn trước lúc ra đi, có ai chẳng sợ khi mà ý thức được những hiểm nguy, nhạy cảm luôn rình rập. Nhưng khi đứng trên vùng biển Hoàng Sa, ngước nhìn lá cờ đỏ sao vàng Việt Nam tung bay trong gió trên đỉnh cột buồm, cảm xúc thiêng liêng thật khó diễn tả bằng lời. Với những địa danh khác, kể cả là nước ngoài, nếu có tiền vẫn có thể dễ dàng đi được, nhưng ra Hoàng Sa thì không phải lúc nào và không phải ai cũng có cơ hội.


 
Suốt mấy trăm năm nay, chính những ngư dân đang ngày đêm bám biển Hoàng sa để mưu sinh như những chiến binh canh giữ đất trời ngoài trùng dương của tổ quốc. Họ như những cột mốc "sống" khẳng định chủ quyền trường tồn trên vùng biển đảo Hoàng Sa. "Dù ở đâu tổ quốc vẫn trong lòng/ Cột cây số cắm từ thương đến nhớ"- hai câu thơ của Nguyễn Duy viết trong đêm mùa đông ở nước Nga xa xôi năm nào cũng chính là tiếng lòng của những ngư dân nơi đây. Tình yêu đất nước đến từ trong sâu thẳm trái tim một con người, mà đôi khi chính họ cũng không thể gọi lên thành tiếng.

Với những người ngư dân thương khó này, có thể, yêu nước là một từ quá sang trọng và tất cả là chỉ vì miếng cơm manh áo. Nhưng những gì mà họ đang làm sau mỗi chuyến ra khơi lại chính là một việc làm chứa chan tình yêu đối với vùng chủ quyền tổ quốc. Nhờ đó, những vùng quê yên bình luôn có cá bạc đầy khoang, mỗi khi chân mây ửng lên màu đỏ. Nhờ đó, cờ tổ quốc luôn tung bay trên vùng biển Hoàng Sa…

Thanh Hương
Bình luận

TIN TỨC LIÊN QUAN