Thủ tướng Võ Văn Kiệt và bài phỏng vấn lay động hàng triệu trái tim Mỹ

(VTC News) - Thủ tướng Võ Văn Kiệt, với tầm nhìn chiến lược và trái tim nhân hậu của mình, đã tập hợp được nhiều người với quan điểm chính trị khác nhau để cùng góp sức vào thúc đẩy phát triển mối bang giao Việt- Mỹ.

>> Toàn cảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Mỹ

Tiếp theo loạt bài về tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ đầy cam go, nhà báo kỳ cựu Lê Thọ Bình, người từng công tác tại báo Quân đội Nhân dân, được phân công theo dõi mảng quan hệ Việt - Mỹ thời kỳ xúc tiến bình thường hóa quan hệ kể về công lao to lớn của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt.
Tổng thống Bill Clinton (trái) và Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố quyết định bình thường hóa quan hệ năm 1995
Tổng thống Bill Clinton (trái) và Thủ tướng Võ Văn Kiệt tuyên bố quyết định bình thường hóa quan hệ năm 1995 
Trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, Thủ tướng Võ Văn Kiệt có một vai trò vô cùng quan trọng. Không chỉ bởi ông thường xuất hiện ở những thời điểm khó khăn nhất, mà còn là, với tầm nhìn chiến lược và trái tim nhân hậu của mình ông đã tập hợp được nhiều người với quan điểm chính trị khác nhau để cùng góp sức vào thúc đẩy phát triển mối bang giao Việt- Mỹ.

“Tôi cũng là một nạn nhân”

Trong mối bang giao Việt- Mỹ không thể không nhắc tới Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Qua những gì mà tôi chứng kiến, quan sát và cảm nhận được với vai trò là một phóng viên tháp tùng ông, thì trong các nhà lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Kiệt là người đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu không muốn nói là quan trọng nhất, trong tiến trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.

Ở thời điểm khó khăn nhất, khi mà dư luận Mỹ đang dấy lên những nghi ngờ rằng Việt Nam vẫn còn giam giữ tù binh Mỹ và cho rằng Chính quyền Mỹ đã không làm hết sức mình trong việc tìm kiếm người Mỹ mất tích thì Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (sau này là Thủ tướng Chính phủ) Võ Văn Kiệt xuất hiện trước giới truyền thông Mỹ.

Nửa tháng trước khi ông Võ Văn Kiệt trả lời phỏng vấn tạp chí TIME của Mỹ thì Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai bảo tôi: “Theo đề xuất của lãnh đạo Bộ Ngoại giao và được Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt chấp thuận, kíp phóng viên TIME sẽ phỏng vấn ông đăng trên số đầu năm 1992”. Sau này, qua các đồng nghiệp Mỹ tôi mới biết rằng đây là sáng kiến của chính Thứ trưởng Lê Mai.
Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có tiếng nói quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình bình thường hóa quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và Mỹ
Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có tiếng nói quan trọng trong việc đẩy nhanh quá trình bình thường hóa quan hệ nhiều mặt giữa Việt Nam và Mỹ 
Trong bài trả lời phỏng vấn (được đăng trên số ra từ ngày 7 đến 13-1-1992), ông Võ Văn Kiệt đã nói: “Việc nghi ngờ Việt Nam vẫn còn giam giữ một số tù binh Mỹ là điều hết sức ngớ ngẩn. Việt Nam không có động cơ gì để làm điều đó cả”.

Bài phỏng vấn đã được ghi lại và sau đó ông Vũ Quốc Tuấn, Trợ lý của Thủ tướng Võ Văn Kiệt chuyển lại cho chúng tôi, dặn đi dặn lại: “Chỉ để tham khảo thôi và khi nào TIME đăng thì dịch ra đăng lại nhé!”.

Sau này các báo của ta (và cả nước ngoài) thường trích dẫn lại lời nói của ông Võ Văn Kiệt trong bài phỏng vấn đó và coi như là thông điệp cho tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ, thậm chí là hòa giải dân tộc:

 

Gia đình tôi có bốn người, vợ và ba con của tôi, bị mất tích trong chiến tranh. Trực thăng Mỹ đã giết 300 người trong một trận càn dọc sông Sài Gòn, vợ và con trai, một con gái của tôi đã mất trong trận càn đó.
Cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt
 
“Ở Việt Nam có hàng chục ngàn gia đình có người thân bị mất tích. Tôi cũng là một nạn nhân. Gia đình tôi có bốn người, vợ và ba con của tôi, bị mất tích trong chiến tranh. Trực thăng Mỹ đã giết 300 người trong một trận càn dọc sông Sài Gòn, vợ và con trai, một con gái của tôi đã mất trong trận càn đó.

Tôi có thể thấu hiểu được nỗi đau của tất cả các gia đình Mỹ có người thân bị mất tích trong chiến tranh. Tôi mong muốn dân chúng Mỹ hiểu được hoàn cảnh của chúng tôi trong vấn đề này. Chúng tôi xin mời bất cứ người nào nghi ngờ còn người Mỹ sống ở Việt Nam hãy đến Việt Nam mà tìm hiểu”.

Bài báo đã làm lay động con tim của rất nhiều người Mỹ.

Mối thân tình với Thượng nghị sỹ John Kerry

Thủ tướng Võ Văn Kiệt là chính khách Việt Nam được giới chính trị và báo giới phương Tây rất nể trọng. Trong giai đoạn mà cả hai phía Việt Nam và Mỹ kết hợp tìm tìm kiếm người Mỹ mất tích.

Có những khó khăn mà nếu không có sự xuất hiện của Thủ tướng Võ Văn Kiệt thì rất có thể lộ trình của mối bang giao Việt- Mỹ sẽ bị chậm lại.

Theo đề nghị của TNS John Kerry thì Việt Nam nên mở hầm ngầm của trụ sở Tổng cục Chính trị (trong nội thành) cho TNS thuộc phái cứng rắn Bob Smith xuống xem để khẳng định Việt Nam không còn giam giữ tù binh như một số thế lực ở Mỹ thời bấy giờ vẫn rêu rao.
Thượng nghị sĩ John Kerry, nay là ngoại trưởng Mỹ, là người đi đầu trong nỗ lực vận động bãi bỏ cấm vận Việt Nam
Thượng nghị sĩ John Kerry, nay là ngoại trưởng Mỹ, là người đi đầu trong nỗ lực vận động bãi bỏ cấm vận Việt Nam 
Theo Thứ trưởng Lê Mai thì “khi đưa ra xin ý kiến Bộ Chính trị thì có vị vẫn kiên quyết không đồng ý, vì cho rằng như vậy là sự xúc phạm.Nhờ sự kiên trì và thái độ dứt khoát của người đứng đầu chính phủ Võ Văn Kiệt nên sau đó một ngày Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã quyết định đồng ý”.

Vì thế, không có gì ngạc nhiên khi, trong Báo cáo của Văn phòng POW/MIA gửi Tổng thống Mỹ, TNS John Kerry đã đưa tên của Thủ tướng Võ Văn Kiệt lên đầu danh sách những người Việt Nam mà ông cho là có đóng góp đặc biệt cho chương trình POW /MIA và tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt-Mỹ.

>> Hóa giải 'những cái đầu nóng' coi Mỹ là kẻ thù chiến lược ra sao?
Trong một lần phỏng vấn ông Kerry tại Hà Nội, khi nói về thiện chí của các nhà lãnh đạo Việt Nam, ông Kerry đánh giá cao Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai, đặc biệt là vai trò của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ông coi ông Võ Văn Kiệt là “Kiến trúc sư của mối bang giao Việt Nam- Hoa Kỳ”.

Có một sự kiện thú vị mà sau này báo chí đã nhiều lần khai thác, đó là việc TNS John Kerry đề nghị Thủ tướng Việt Nam nên viết thư gửi Tổng thống Bill Clinton yêu cầu Mỹ xóa lệnh cấm vận thương mại và tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước.

Tôi còn nhớ, khoảng cuối tháng 4/1993, trong giờ giải lao của phiên họp thường kỳ Chính phủ tại TP. HCM, tôi và anh Thái Hòa (VTV) đang tào lao ở hành lang thì ông Vũ Quốc Tuấn đi lại ghé tai: “Chiều “Cụ” tiếp TNS John Kerry. Nhớ đến nhé”.

Video những lần thăm Việt Nam của cựu Tổng thống Clinton

Sau khi vào ghi hình, chụp ảnh chừng 5 phút thì cánh nhà báo chúng tôi được mời ra ngoài để Thủ tướng trao đổi công việc với ông Kerry.

Sau này ông Vũ Quốc Tuấn có kể lại rằng, tại buổi trò chuyện ấy TNS Kerry đã khuyên Thủ tướng Võ Văn Kiệt  viết thư gửi Tổng thống Bill Clinton yêu cầu Mỹ xóa lệnh cấm vận thương mại, tiến tới bình thường hóa quan hệ giữa hai nước. Thậm chí ông Kerry còn lấy giấy bút ra soạn thảo bức thư giúp Thủ tướng Võ Văn Kiệt.

Bức thư đã được TNS John Kerry chuyển tới Tổng thống Mỹ Bill Clinton. Hai tháng sau, ngày 2-7-1993, Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố: “Mỹ không còn phản đối những dàn xếp được ủng hộ bởi Pháp, Nhật, và các nước khác nhằm nối lại sự giúp đỡ của các định chế tài chánh quốc tế cho Việt Nam”.

Ông Nguyễn Văn Hảo- người “phe ta”

Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người có khả năng quy tụ và rất chịu khó lắng nghe ý kiến của các chuyên gia, các nhà kinh tế, đặc biệt là những người từng không thuộc “phe ta”.

“Nhóm Thứ Sáu” từng một thời rất nổi tiếng và được coi như biểu tượng về trọng dụng nhân tài và hòa hợp dân tộc của người đứng đầu chính phủ Việt Nam Võ Văn Kiệt.

Nhóm này hình thành từ nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế, thời cuộc, văn hóa sau 1975, với khoảng 25 thành viên thường xuyên, hầu hết là chuyên gia, trí thức và công chức từ thời Việt Nam Cộng hòa. Họ hoạt động trên tinh thần “5 không”: Không điều lệ, không biên chế, không vụ lợi, không chủ quản, không lương.

Tuy nhiên trong số này tôi muốn nhắc tới một người có vai trò nhất định trong tiến trình bình thường hóa quan hệ Việt Nam- Hoa Kỳ. Đó là ông Nguyễn Văn Hảo. Ông Hảo sinh năm 1942, từng là Thống đốc Ngân hàng Quốc gia và Phó thủ tướng của VNCH.

Ông Võ Văn Kiệt có mối thân tình và rất coi trong những ý kiến đóng góp của ông Hảo. Tuy nhiên, năm 1981 ông sang định cư cũng gia đình tại Pháp rồi trở thành cố vấn kinh tế cao cấp cho Chính phủ Haiti, ông Kiệt vẫn muốn giữ liên lạc thường xuyên.
Ông Lê Mai (thứ hai từ phải sang) tháng 11/1992 tiếp thượng nghị sĩ Mỹ John Kerry tới Hà Nội để cùng thảo luận về vấn đề POW/MIA 
Ngày 8/8/1991, tại kỳ họp thứ 9 Quốc hội khoá VIII ông Võ Văn Kiệt được Quốc hội bầu giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (thay ông Đỗ Mười). Ông Kiệt đã mời ông Nguyễn Văn Hảo quay trở về Việt Nam.

Tôi còn nhớ vào cuối kỳ họp Quốc hội ông Hảo về Hà Nội và được ông Võ Văn Kiệt tiếp đón trong bầu không khí hết sức chân tình. Hôm ấy, khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt bước vào phòng khách, ông Hảo đứng bật dậy, đi nhanh về phía ông Kiệt. Hai người ôm nhau.

Ông Kiệt đã đề nghị ông Nguyễn Văn Hảo quay trở lại Washington, vận động Mỹ bỏ cấm vận và thúc đẩy nhanh tiến trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt nam Hoa Kỳ.

Ông Hảo quay trở lại Washington và đóng vai trò quan trọng để Bộ trưởng Thương mại Việt Nam thời bấy giờ là ông Lê Văn Triết gặp gỡ trao đổi với Bộ trưởng thương mại Mỹ Ron Brown, người có ảnh hưởng rất lớn đến Bill Clinton.

Mọi chuyện đang tiến triển thuận lợi thì Lý Thanh Bình (một Việt kiều ở Miami), người từng là trợ lý của ông Hảo khi ông là Phó thủ tướng VNCH, bịa đặt tố cáo Việt Nam đã hối lộ ông Brown 200.000 USD để ông này hối thúc Chính quyền Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận và bình thường hóa quan hệ ngoại giao.

Tuy nhiên sau gần 7 tháng điều tra công phu, ngày 1/2/1994, Bộ trưởng Thương mại Ron Brown ra tòa và Bồi thẩm đoàn đã cho rằng Ron Brown vô tội. Hai hôm sau, 3/2/1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại Việt Nam.
Ngày 29/9/1990, Việt Nam - Mỹ lần đầu tiên gặp cấp cao kể từ sau Hiệp định Paris 1973,  cuộc gặp giữa Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch và Ngoại trưởng James Baker tại Mỹ đã vạch ra lộ trình bình thường hóa quan hệ hai nước.

Đến ngày 1/7/1991, Việt Nam cho phép Mỹ mở cơ quan chính thức tại Hà Nội, đó là Văn phòng tìm kiếm quân nhân mất tích (MIA).

Ngày 11/11 năm đó, Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm đi lại cho phép khách du lịch, cựu chiến binh, nhà báo, doanh nhân Mỹ thăm Việt Nam.

Một năm sau, ngày 3/2/1994, Mỹ dỡ bỏ cấm vận thương mại với Việt Nam. Tổng thống Bill Clinton thông báo quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam. "Đây là một quyết định đúng đắn”, Thượng nghị sĩ John Kerry (nay là Ngoại trưởng Mỹ) phát biểu về động thái này.

28/1/1995 hai nước mở văn phòng liên lạc. Mỹ mở văn phòng liên lạc tại số 7 Láng Hạ, Hà Nội với người đứng đầu là cựu đại úy James Hall, trong khi đó, văn phòng liên lạc của Việt Nam tại Mỹ nằm ở Washington D.C, do ông Lê Văn Bàng đứng đầu.

Ngày 11/7/1995 là thời điểm lịch sử khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ. Tổng thống Mỹ Bill Clinton và Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt thông báo quyết định bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước. “Những gì chia cách chúng ta trước đây, hãy để chúng lui vào quá khứ”, Bill Clinton nói.

“Quyết định này phù hợp với xu hướng hiện nay của tình hình quốc tế, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, ổn định và phát triển ở Đông Nam Á, cũng như trên thế giới”, Thủ tướng Võ Văn Kiệt phát biểu.

Sau đó, Việt Nam và Mỹ mở đại sứ quán tại mỗi nước vào ngày 5/8/1995. Ngoại trưởng Mỹ Warren Christopher khai trương tòa đại sứ Mỹ tại Hà Nội trong chuyến thăm đầu tiên của một ngoại trưởng Mỹ tới Việt Nam. Việt Nam cũng mở đại sứ quán tại Washington D.C.

Lê Thọ Bình
Bình luận

TIN TỨC NÊN ĐỌC

Báo Điện tử VTC News

Tin tức trong ngày mới