Đỗ
Anh Thư không thể nhớ trong suốt ba mươi năm đạp xích lô mình đã chở bao nhiêu
vị khách. Thế nhưng có những vị khách khiến ông trùm xích lô Hà Nội không thể
quên, bởi họ tạo ra những dấu ấn, những bước rẽ khiến đời ông thay đổi như
chính ông chia sẻ. Vẫn trong căn nhà nhỏ lụp xụp số 50 ngõ Phát Lộc ấy, vẫn bên
chén trà xanh nghi ngút khói ấy, Đỗ Anh Thư nhớ về câu chuyện của những vị
khách đặc biệt trong ông, rành rọt, rõ ràng và tường tận tới từng chi tiết như
mới diễn ra ngày hôm qua…
Daniel
Santal – người đàn bà tìm con
Tôi vẫn thường kể với báo chí về
Daniel Santal với tư cách là người gợi mở cho tôi một con đường làm ăn lương
thiện, có thu nhập đủ để sống ung dung tự tại nhưng cũng không quá vất vả (ấy
là theo quan niệm của tôi) – nghề đạp xích lô. Dù lúc ấy tôi chưa quyết định lựa
chọn đạp xích lô là cái “nghiệp” của mình, nhưng nó cũng khiến tôi bắt đầu đặt
niềm tin và hi vọng nhiều hơn vào cái nghề mà xã hội vẫn cho là quá vất vả và
thấp hèn ấy… Tuy nhiên, đấy chỉ là một phần lí do khiến tôi nhớ tới người đàn
bà nước Pháp. Phần lớn hơn để tôi nhớ tới Daniel chính là sự gắn bó trong suốt
những ngày bà ở Việt Nam. Đó là câu chuyện về người đàn bà tìm con với tình yêu
và sự kiên nhẫn không kể xiết…
Một buổi sáng năm 1991, tôi đứng ở
Hàng Ngang Hàng Đào bắt khách. Thời đó xích lô nhiều như lá tre, cũng phải đến
hai vạn chiếc có lẻ, ra đường gặp xích lô, vào ngõ gặp xích lô. Những chiếc
xích lô đen xì, chỉ có một miếng ván gỗ, trên dải mảnh chiếu nhỏ để chở khách.
Lúc đó tôi nghĩ: “Mình đi làm kiếm tiền trang trải tạm những chi phí cho gia đình
trong lúc chờ Sở giáo dục xếp việc thôi. Đây không phải là nghề của mình. Mình
không sống bằng việc đạp xích lô”.
Bỗng có một bà Tây tóc vàng cắt
ngắn xuất hiện. Từ sáng tới giờ chưa có khách nên tôi mừng rỡ vội phóng xe tới
chỗ vị khách nước ngoài. Chào lần thứ nhất, Daniel không phản ứng gì. Tôi chào
lại lần thứ hai và hỏi “Bà cần đi đâu tôi đưa bà đi” bằng tiếng Pháp. Lúc ấy vị
khách nước ngoài ngẩng mặt lên, thoáng chút ngạc nhiên, ngỡ ngàng rồi bà mỉm cười
thân thiện: “Cho tôi tới bưu điện”. Sau một ngày chở bà đi lòng vòng mấy địa điểm
trong thành phố, tôi đưa bà về Hàng Trống. Daniel dặn: “Sáng mai 8h đón tôi tại
đây”. Tôi nói “vâng”, nhưng có lẽ bà sợ tôi không hiểu cứ vâng bừa nên yêu cầu
tôi nhắc lại câu hỏi. Tôi nói lại đúng những gì bà nói bằng tiếng Pháp. Lần đầu
tiên tôi thấy Daniel cười một cách thích thú. Hồi ấy một ông đạp xích lô mà nói
được dăm ba câu tiếng Tây cũng hiếm và ghê gớm lắm chứ! Đó là sự may mắn của
tôi nhưng cũng là cơ duyên mà Daniel đang kiếm tìm trên mảnh đất mà bà thật sự
lạc lõng về mặt ngôn ngữ.
Daniel nói bà sang Việt Nam xin
con nuôi và muốn nhờ tôi giúp đưa tới những chỗ có thể xin con. Tôi không biết
vì sao bà khách người Pháp lại muốn nhận một đứa trẻ Việt Nam mà không phải là
một đứa trẻ ở bất kỳ một quốc gia nào khác trên thế giới. Hơn nữa, thủ tục xin
con ở Việt Nam cũng rất khó khăn và phức tạp. Daniel không chia sẻ lý do của bà
và tôi cũng không gặng hỏi vì rào cản ngôn ngữ và cũng vì sự tế nhị mà người
đàn bà Pháp muốn giữ riêng cho mình. Nhưng tôi cảm nhận Daniel rất yêu Việt
Nam, đôi mắt bà đầy cảm xúc mỗi khi đi qua một địa danh quen thuộc nào đó. Có
thể với Daniel, Việt Nam, Hà Nội ẩn chứa những kỉ niệm sâu sắc của cá nhân bà…
Thời gian tôi chở Daniel vào khoảng
giáp Tết. Thời tiết mùa rét năm ấy thật khắc nghiệt. Ngoài trời nhiệt độ chỉ 5
đến 7 độ, lại còn lất phất mưa phùn. Tôi chở Daniel tới làng SOS trong điều kiện
như thế. Suốt chặng đường dài 7km, người đàn bà tóc vàng lạnh run, co ro, tím
tái nhưng vẫn không than vãn một lời. Trong lòng tôi lúc ấy dâng trào những cảm
xúc hỗn độn chồng chéo lên nhau: vừa thương, vừa giận dỗi, vừa ghen tị, trách
móc… “Tại sao một bà mẹ Việt Nam sinh con ra lại nỡ lòng bỏ con đi? Trong khi
đó một người phụ nữ Tây từ bên kia đại dương lại lặn lội sang đây để kiếm tìm một
tình cảm thiêng liêng như thế…”. Ngày hôm sau, tôi chủ động mang theo một mảnh
áo mưa để trùm lên che chắn cho bà khách. Và cứ như thế, chúng tôi im lặng đi
trong mưa rét. Tôi đã học được một đức tính ở vị khách có dáng vẻ mảnh mai của
mình: đó là sự kiên trì. Kiên trì theo đuổi mục đích tới cùng.
Trước khi sang Việt Nam, Daniel
đã chuẩn bị rất kĩ về mặt giấy tờ và thủ tục. Bà đã tới Đại sứ quán Việt Nam ở
Pháp để trình bày nguyện vọng và được chấp nhận. Bà cũng phải tới Đại sứ quán
Pháp tại Việt Nam để xin giấy phép. Phải trải qua rất nhiều các cuộc điều tra về
tài sản cá nhân, thu nhập hàng năm, đức tính con người… đủ tiêu chuẩn để nuôi một
đứa trẻ thì Daniel mới được cấp đầy đủ thủ tục sang Việt Nam xin con. Dù vậy,
công việc của bà vẫn gặp phải những rào cản lớn không mong đợi khác…
Vào thời gian này ở Việt Nam có một
tin đồn khủng khiếp: những người Tây sang Việt Nam xin con nuôi mục đích chính
là để buôn bán phủ tạng trẻ em. Vì thế việc xin con của bà càng trở lên lao đao
hơn. Hầu như tới địa điểm nào bà cũng bị từ chối, bị đón tiếp với thái độ nghi
hoặc, ghẻ lạnh. Tôi đã phải cố gắng tìm hầu như tất cả những bệnh viện phụ sản,
viện nhi, viện bà mẹ trẻ em… những nơi có thể làm thủ tục xin con để đưa Daniel
tới… Có lần, đỗ xe ở đầu Phủ Doãn, tôi thấy Daniel đi ra từ viện C, bà cứ cào
cào vào gốc cây, mặt đỏ, nước mắt đầm đìa… Lúc đó tôi chỉ biết động viên mời bà
lên xe rồi mai ta đi tìm tiếp…
Ròng rã suốt gần 8 tháng trời như
thế. Cho đến một ngày tôi chở Daniel tới Viện Nhi Thụy Điển. Sau một lúc vào
trò chuyện, tôi thấy Daniel đi ra, chân bà bước vội, quýnh quáng như nhảy chân
sáo, gương mặt phấn khởi, mắt sáng long lanh… Vừa nhìn thấy tôi bà chạy vội đến
ôm cổ, hôn má trái, má phải… Phía sau dân tình đổ xô lại nhìn cảnh tượng ấy. Là
đàn ông đã có vợ rồi và cũng hiểu sự phấn khích của bà nhưng tôi biết mặt mình
đang nóng và đỏ nựng dần lên… Cuối cùng, sự cần mẫn, kiên trì và tình yêu tha
thiết đã mang lại cho Daniel một cô con gái xinh xắn. Tôi cảm thấy hạnh phúc
lây với người bạn của mình, tựa như chính mình tìm được đứa con thất lạc lâu
ngày vậy. Khi Daniel và con gái về nước tôi cũng thấy bịn rịn lắm, nhưng bà
nói: “Nhất định tôi sẽ quay lại Việt Nam vì còn phải đưa con gái trở về thăm
quê hương, bản xứ của nó…”.
Thời gian đưa Daniel đi tìm con,
mỗi ngày bà trả cho tôi từ 5USD đến 8USD tùy theo từng ngày. Cũng nhờ nguồn thu
nhập này, gia đình tôi có thể trang trải hết các khoản nợ, cuộc sống cũng trở
nên dễ chịu hơn… Tôi cũng bắt đầu yêu, đặt niềm tin và hi vọng vào chiếc xích
lô, vào công việc mới của mình… Daniel đã mang lại cho tôi niềm tin đó, và cũng
chính bà đã mang tới cho tôi những vị khách đặc biệt khác, những vị khách cũng
nối gót theo bà sang Việt Nam tìm con…

Hai
vợ chồng người Pháp và “chiếc tivi đặc biệt”…
Vài tháng sau khi Daniel về nước
có một cặp vợ chồng người Pháp tới tận đây tìm tôi. Ông chồng làm nghề lính cứu
hỏa, còn bà vợ là giáo viên mầm non. Họ cũng sang Việt Nam xin con nuôi theo lời
giới thiệu của bà bạn tóc vàng Daniel.
Một hôm, hai vợ chồng ông lính cứu
hỏa gọi điện mời tôi đến chơi. Khi tôi đến nơi bà vợ ngỏ ý: “Tôi muốn tặng ông
một thùng thuốc, ông có đồng ý không?”
Lúc đó tôi hơi ngạc nhiên và thực
sự phân vân. Tôi nghĩ đến đứa con mắc bệnh hen suyễn của mình. Những năm 1986,
1987 con tôi bị hen nặng. Tôi làm công nhân, tiền ăn còn chưa đủ nói gì tới tiền
mua một viên thuốc cho con? Thuốc Tây hồi ấy đắt lắm. Tôi chỉ biết vừa đạp xe,
vừa để ý hai bên đường thấy cây nhọ nồi, cây sam nào là hái về để sắc cho con uống…
Nghe tới được tặng một thùng thuốc trong tôi có cảm giác gì đó lạo chạo.
Tôi không trả lời mà bước ra nhòm
thùng thuốc. Nó to như một cái vô tuyến 30 inch, nhưng bên trong lộn xộn những
vỉ thuốc, chai thuốc dở dang. Nhìn hỗn độn như một đống rác vậy. Một chút tự ái
nổi lên, nhưng rồi tôi nghĩ lại: Mình không phải là tham, họ cũng có tấm lòng
thật sự, và bản thân mình cũng quá nghèo khổ, thế thì sĩ diện làm gì?
Tôi đồng ý. Hai vợ chồng người
Pháp tỏ thái độ vô cùng mừng rỡ. Bà vợ vội lấy băng dính dán lại nắp hộp cẩn thận
rồi bê xuống nhà cho tôi. Khi đó con bé lớn nhà tôi mới 3 tuổi, tôi bế nó trên
tay, nó ghé vào tai hỏi bố: “Bố ơi, bà ấy cho nhà mình một chiếc tivi à?”.
Nghe con hỏi, nước mắt tôi cứ chảy
dài ra. Hồi ấy nghèo quá, các con tôi chỉ khao khát có một chiếc tivi nhỏ. Tôi
gật đầu: “Ừ, chiếc tivi đặc biệt con ạ”, và ánh mắt con bé lúc đó thật rạng rỡ.
Về nhà, tôi chở vợ đi khắp các hiệu
thuốc để rao bán thuốc. Đi đủ các hiệu rồi cũng có một hiệu đồng ý mua với giá:
cứ 700 đồng một viên, tính theo viên bất kể vỉ dở hay nguyên, bất kể thuốc gì.
Còn thuốc nước thì cứ 2000 đồng một chai bất kể chai to hay nhỏ. Cuối cùng tiền
bán thuốc cộng lại cũng được gần… 3 triệu đồng. Hồi ấy, 3 triệu đồng cũng là
to, là ghê gớm lắm rồi. Tôi cũng dám hào phóng bỏ ra 120 nghìn mua một chiếc
tivi cũ cho các con… Với tôi, đó thực sự là “một chiếc tivi đặc biệt” để có
thêm động lực gắn bó với chiếc xích lô mà nuôi sống gia đình… Việc dạy học chờ
mãi chưa thấy đâu, nhưng “khi cánh cửa này đóng lại, cánh cửa khác sẽ mở ra”,
cánh cửa khác với tôi khi ấy mà nói chính là cái nghề đạp xích lô…
Tôi chở hai vợ chồng người Pháp
đi tìm con. Và rồi họ cũng tìm được. Sau đó, tiếp tục có rất nhiều đôi vợ chồng
nước ngoài khác đến tìm nhờ tôi đưa đi xin con nuôi. Có đôi khi tôi tự mỉm cười:
“Một ông đạp xích lô như mình mà có thể hình thành hẳn một “đường dây”, một “đường
dây” giúp người nước ngoài xin con nuôi, giúp họ tìm được tình cảm thiêng liêng
mẫu tử của mình…”.

Ngài
Thủ tướng ngồi xích lô
Milos Zeman – Thủ tướng nước cộng
hòa Séc có lẽ là vị khách đặc biệt nhất trong đời đạp xích lô của tôi.
Đó là vào năm 1990, khi chúng tôi
đã thành lập cả một đội xe hoành tráng, cái tên San souci cũng đã là một thương
hiệu lớn. Hôm đó, tôi nhận được điện của chị Mùi ở Đại sứ quán Cộng hòa Séc, mời
đến để làm hợp đồng chở ngài Thủ tướng Cộng hòa Séc Milos Zeman. Tôi cũng thấy
ngạc nhiên và hoang mang vì chưa thấy báo chí nào nói sắp có ông Thủ tướng nào
sang thăm Việt Nam.
Khi tôi tới Đại sứ quán thì có
hai anh công an đứng gác chặn lại hỏi. Tôi trả lời rất chân thật: “tôi đến để
kí hợp đồng chở ngài Thủ tướng Milos Zeman”. Các anh ấy liền bảo: “Ông Thủ tướng
đời nào lại đi xích lô của các ông. Thôi mời các ông biến khẩn trương!”. Rất
may lúc ấy ông Tham tán Đại sứ quán Séc đang đứng ở trong nhìn thấy tôi đội cái
mũ San souci mới chạy ra cầm tay tôi mời vào.
Hai ngày trước khi Thủ tướng
sang, chúng tôi phải tập xe ở Bờ Hồ, tập hàng ngang, hàng dọc… đủ cả. Đến đúng
ngày đón Thủ tướng, tôi tập trung anh em sớm rồi tập thêm một vòng nữa cho chắc
ăn trước khi làm nhiệm vụ. Bọn tôi đi từ Hàm cá mập lên Trần Nguyên Hãn rồi
quay lại bờ hồ, ra điểm tập kết đón khách trên đường Bà Triệu. Vừa thấy đám
xích lô, công an xúm lại đuổi. Tôi nhũn nhặn trình bày công việc của mình nhưng
họ không tin. Hết công an lớp ngoài, lại đến công an lớp trong ra đuổi cánh
xích lô nhưng chúng tôi nhất quyết không đi. Một lúc sau có chiếc ô tô màu đen,
to, dài đỗ xịch trước mặt chúng tôi. Ba người cao to, đầu trọc, đeo kính đen bước
xuống kêu gọi tất cả xích lô tập kết vào xếp hàng phía trên vườn hoa. Khi ấy
chúng tôi mới được vào cửa. Sau đó có mấy vị có cái đẵn như tấm mía, kiểm tra hết
chỗ này đến chỗ kia, từ dưới yên xe đến thành xe, rồi kiểm tra cả hai bên vườn
hoa. Vô tình lúc nào cái “đẵn mía” ấy động vào lưng tôi cứ cảm giác như mình
đang bị dí nòng súng vào gáy vậy, lạnh ngắt và căng thẳng vô cùng.
Sau khi kiểm tra khoảng 5 phút
thì Thủ tướng đến. Trong đời tôi chưa bao giờ chứng kiến cảnh tượng nào trang
nghiêm và… sợ hãi đến thế. Còi hú, đèn nhấp nháy xoay tít, những hàng cảnh sát
dài với xe phân khối lớn…
Khi đi, chúng tôi đi đằng trước,
xe đại sứ cắm cờ chạy đằng sau. Một cái xe cứu thương to hụ còi đằng trước, một
cái phía sau, hai hàng mô tô kính sáng loáng hai bên. Còn có cả hai ông cận vệ
của Thủ tướng chạy dọc theo hai bên vỉa hè. Ngoài ra còn hai bảo vệ Việt Nam ngồi
trên xích lô hai bên để bảo vệ cho Thủ tướng và phu nhân theo nghi thức ngoại
giao. Ôi, lúc ấy cứ như tim rụng rời đến nơi vậy…
Mấy ngày sau khi chở ngài Thủ tướng,
chị Mùi gọi tôi lên thanh toán tiền công. Vị tham tán khi ấy đã nói với tôi:
“Tôi biết đội San souci này nổi tiếng ở Pháp, ở Bắc Âu… nhưng tôi hứa từ giờ
phút này San souci sẽ nổi tiếng ở Nam Âu…”
Đời đạp xích lô, tôi gặp không biết bao nhiêu vị khách. Với tôi, mỗi vị khách, mỗi chuyến đi, mỗi câu chuyện của họ đều là một sự trải nghiệm đầy thú vị… Và như thế, cuộc đời người đạp xích lô cũng đáng để tự hào và trân trọng lắm chứ…
- Tiếng chân khua chấm lửng nỗi buồn…(24/07/2010 08:00)
- Tu tiên ở Mường Chậm(22/07/2010 11:45)
- GS. Tôn Thất Triêm: Nốt lặng dịu dàng(14/07/2010 16:59)
- Có một chị "Thanh Tâm" ở VTC1(14/07/2010 16:55)
- Những lát cắt về "Xoài Xanh"(14/07/2010 16:50)
- Cuộc gặp kín giữa các nhà báo và chàng Đông Ki Sốt(25/06/2010 12:08)
- HAI TAY HAI – BA – BỐN… “SÚNG”(27/06/2010 10:58)
- Chuyện phiếm với ông chủ chiếu rượu Quê choa(26/06/2010 10:42)
- NHÀ BÁO VÀ NICKNAME BALOONTOONG(23/06/2010 16:48)
- "Ấn tượng nhất về Cannes là sự chuyên nghiệp"(23/06/2010 16:36)



Print
Email



