Người anh hùng tình báo thứ 2 của LLVT nhân dân

Sau Đinh Thị Vân, Nguyễn Hữu Trí là người thứ hai của ngành tình báo chiến lược quân sự được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, song tới nay quá trình hoạt động và thành tích của ông vẫn chưa được đông đảo bạn đọc biết tới.

Nguyễn Hữu Trí (tức Nguyễn Văn Bốn) sinh ngày 28-12-1926 tại xã Vĩnh Lợi - huyện Gò Công - tỉnh Mỹ Tho (nay là tỉnh Tiền Giang) trong một gia đình đông anh em, có cha là thợ kim hoàn. Ông là con thứ ba nên thường được gọi là Tư Bốn.

Trong kháng chiến chống Pháp, hai anh trai ông đi bộ đội và đã hy sinh trong chiến đấu, một em trai ông cũng đi bộ đội song sau vì bị bệnh phải giải ngũ, về Sài Gòn sống với gia đình. Ông tham gia cách mạng tháng 8-1945, gia nhập Cộng hòa vệ binh tháng 10-1945, được ít lâu thì chuyển sang công tác trinh sát, lần lượt làm trinh sát viên ở Khu 7, tổ trưởng trinh sát thuộc Phòng tham mưu Khu 8, trung đội trưởng trinh sát thuộc Phòng tham mưu Khu 9. Năm 1949 ông được giao nhiệm vụ tổ chức mua thuốc tây, hóa chất, thuốc nổ, điện đài... ở vùng địch tạm chiếm và vận chuyển những hàng hóa đó qua các “hàng rào” kiểm soát của địch, ra vùng căn cứ Khu 9.

Ông đã hoàn thành tốt nhiệm vụ này, xây dựng được nhiều cơ sở vững chắc ở Sài Gòn và trực tiếp đưa thư từ, tài liệu vận động cách mạng tới một số vị nhân sĩ, trí thức, vì vậy mà được tặng thưởng huân chương Chiến công hạng ba. Có lần bị địch bắt và tra tấn rất dã man song ông vẫn kiên trì bảo vệ bình phong, giữ vững khí tiết nên cuối cùng địch phải thả vì không tìm ra chứng cớ để kết tội. 

Tháng 6-1951 ông được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam. Năm 1953 ông được rút về làm Trưởng ban Hành chính - Quản trị của Bộ tư lệnh phân liên khu miền Tây Nam Bộ. Cuối năm 1954 ông tập kết ra miền Bắc, làm Trưởng ban Hành chính của Trung đoàn 78, sau đó được cử đi học Trường Sĩ quan Lục quân.

Tháng 12-1959 ông tốt nghiệp, được phong quân hàm trung úy và được điều về Cục Tình báo. Trong hai năm 1960-1961 ông được huấn luyện tương đối bài bản về chính trị và nghiệp vụ tình báo. Tháng 1-1963 ông được phái theo đường biển vào miền Nam làm tổ trưởng điệp báo, có nhiệm vụ tạo lập bình phong, chỗ đứng chân, từng bước hợp pháp hóa tại địa bàn Sài Gòn.

Vào tới Sài Gòn, Nguyễn Hữu Trí tìm gặp rồi mau chóng thu hút được em ruột là Nguyễn Hữu Nghĩa tham gia công tác tình báo. Ông còn chắp nối với bà Trịnh Thị Ngọc Sương, người vợ chưa cưới vẫn thủy chung chờ đợi ông gần 10 năm trời. Em ruột bà là Trịnh Hoài Châu thì tham gia công tác tuyên huấn của Thành ủy Sài Gòn - Chợ Lớn từ năm 1954, hoạt động trong bộ phận in báo và truyền đơn, năm 1958 bị địch bắt khi đang là đảng viên dự bị, đã kiên quyết không khai nhận gì nên năm 1962 địch phải thả, lúc ấy về nhà vừa lo làm ăn sinh sống vừa tìm cách chắp nối liên lạc với tổ chức. Nắm được tình hình như vậy, Nguyễn Hữu Trí đã khéo léo tách cả hai ra khỏi các đoàn thể cách mạng ở địa phương rồi thu hút họ tham gia công tác tình báo. Nguyễn Hữu Nghĩa, Trịnh Thị Ngọc Sương, Trịnh Hoài Châu lập tức trở thành ba cộng sự đắc lực, giúp đỡ ông rất nhiều trong việc phát triển công tác.

Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Hữu Trí (1926 - 1993). 


Thông qua quan hệ của bản thân và khai thác các mối quan hệ của người thân, bạn bè, Nguyễn Hữu Trí đã xây dựng được nhiều cơ sở bảo đảm đáng tin cậy như Đỗ Ngọc Diệp (công chức ngành hàng hải), Lâm Văn Tường (chủ xe đò), Lý Sến (tiểu thương), A Khải (kế toán viên), Lê Văn Nghiêm (lái xe tắc-xi), Võ Văn Ngưu (thợ mộc). Họ giúp ông có được nơi ăn ở, cất giấu và sử dụng điện đài an toàn, thuận tiện, làm được giấy tờ tuỳ thân nửa hợp pháp, vào được sổ gia đình, tạo lập được bình phong chức nghiệp phù hợp. Nhờ họ mà đêm 1-11, trưa, chiều 2-11-1963 ông liên lạc được 3 phiên bằng điện đài để kịp thời báo cáo về Cục Tình báo tình hình cuộc đảo chính lật đổ Diệm – Nhu. Tháng 7-1964, khi nhu cầu liên lạc tăng cao, ông đón được điện đài viên Nguyễn Thế Huỳnh vào, làm việc an toàn, có hiệu quả cho tới khi Nguyễn Thế Huỳnh được rút về (tháng 11-1965). Đỗ Ngọc Diệp còn trực tiếp xây dựng được điệp viên và sau này được giao nhiệm vụ như một tổ trưởng điệp báo.

Cũng thông qua quan hệ của bản thân và khai thác các mối quan hệ của người thân, bạn bè mà Nguyễn Hữu Trí tiếp cận, đi sâu quan hệ, chuyển hóa được nhiều sĩ quan, công chức ngụy như Trần Văn Bèo, Lê Văn Phủ, Phan Đình Thu, Lê Văn Đức, Trần Văn Lộc, Nguyễn Công Tuấn thành điệp viên của ta.

Ông đã khéo léo giác ngộ cách mạng, từng bước nâng cao nhận thức và trình độ chính trị, nghiệp vụ cho họ, hướng dẫn, giúp đỡ họ vừa thu thập tin tức, tài liệu tình báo, vừa tìm cách chui sâu, leo cao trong hàng ngũ địch, đi vào những mục tiêu chiến lược quan trọng. Ví dụ: Trần Văn Bèo từ nhân viên Phòng Quân huấn - Trường Sĩ quan Thủ Đức lên phó ban Quân lực ở Bộ Tổng tham mưu, thân cận với tên Trung tướng Trần Văn Minh và một số tên tướng khác như: Vĩnh Lộc, Trần Ngọc Tám, Đặng Văn Quang; Lê Văn Phủ từ thiếu úy ở một đơn vị lẻ thuộc Sư đoàn 7 chuyển về Phòng Quản trị - Kế hoạch của Nha tổng giám đốc bảo an, sau lên Trưởng ban Thống kê - Bộ tư lệnh bảo an rồi lên Bộ Tổng tham mưu làm sĩ quan giúp việc cho tên Thiếu tướng Trần Ngọc Tám, phụ tá Tổng Tham mưu trưởng (tương đương Tổng tham mưu phó); Trần Văn Lộc từ huấn luyện viên ở Trung tâm huấn luyện Quang Trung lên làm sĩ quan hành chính - quản trị rồi chủ sự Phòng Hành chính - Quản trị ở Phủ tổng thống, thân cận với Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và một số tên tướng như Nguyễn Văn Vỹ, Chung Tấn Cang; Trịnh Hoài Châu từ làm ăn bên ngoài vào làm ở Nha Kế hoạch - Bộ Phát triển nông thôn; Nguyễn Hữu Nghĩa từ chạy xe tắc-xi vào làm tài xế riêng cho tên Đại tá, Trưởng phòng 1 - Bộ Tổng tham mưu. Họ đã liên tục thu thập được những tin tức, tài liệu có giá trị về nhiều mặt, trong đó có một số tin tức, tài liệu được Cục Tình báo đánh giá là chiến lược, cao sâu. Bản thân Nguyễn Hữu Trí cũng rất chủ động mở rộng, đi sâu quan hệ nên đã khéo léo khai thác được từ Nguyễn Mộng Bích (Đại tá, giám đốc Nha Quân pháp), Trần Văn Triều (sĩ quan không quân), Hồ Văn Tiêu (nhân vật Công giáo), Nguyễn Hữu Lương (nhân vật Phật giáo), Lê Thương (nhạc sĩ)... được nhiều tin tức, tài liệu có giá trị về quân sự, chính trị của địch. Từ năm 1963 đến năm 1970, lưới điệp báo của ông đã có vai trò như một trong vài lưới hiệu lực chủ yếu của tình báo chiến lược về quân sự. Đặc biệt, tuy số lượng điệp viên, quan hệ điệp báo, cơ sở bảo đảm... của lưới là khá lớn và nhiều người được xây dựng thông qua quan hệ “bắc cầu” song ông vẫn bảo đảm tốt yêu cầu cự ly, đơn tuyến trong lưới, vì vậy mà khi một nữ giao thông viên nối lưới với trung tâm chỉ huy bị địch nghi ngờ, bắt giữ cùng tài liệu đã không lây lan rộng.

Trong thời gian làm tổ trưởng điệp báo, Nguyễn Hữu Trí được tặng thưởng 2 huân chương Chiến công hạng nhì, 2 huân chương Chiến công hạng ba. Ngày 20-9-1971 ông được Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Cuối tháng 4-1970 Nguyễn Hữu Trí được rút ra vùng giải phóng để bảo đảm an toàn. Tháng 2-1971 ông được bổ nhiệm Phó phòng Tình báo chiến lược miền (J22). Đầu năm 1973 ông được cử phụ trách Ban Tình báo ngoại giao của phòng và tham gia Đoàn đại biểu quân sự của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam trong Ủy ban quân sự 4 bên, vào làm việc tại trại Đa-vít ở Sài Gòn. Giữa năm 1973, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, ông lại trở về vùng giải phóng, làm phó phòng rồi từ tháng 4-1974 làm quyền trưởng phòng Tình báo chiến lược miền. Tháng 12-1974, khi Phòng Tình báo chiến lược miền chuyển thành Đoàn tình báo 22 thuộc Bộ tham mưu miền, ông được bổ nhiệm quyền đoàn trưởng. Trên những cương vị ấy, ông đã lãnh đạo, chỉ huy lực lượng tình báo chiến lược miền hoàn thành tốt nhiệm vụ nắm địch, phục vụ chỉ đạo chiến lược, chiến dịch và điều tra mục tiêu, chuẩn bị cho bộ đội tác chiến trong những năm tháng cuối cùng của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Theo QĐND

Chủ đề:
Bình luận

TIN TỨC NÊN ĐỌC