Một chiều Đất Tổ

Lần đầu tiên tôi lên Phú Thọ là năm 1994. Sở dĩ tôi nhớ rành rọt thế dù cái đầu thuộc loại hay quên là vì đấy là cái năm tôi được đi dự hội nghị nhà văn trẻ. Oách. Chương trình của hội nghị có một cuộc đi thăm Đền Hùng. Muốn vào đền Hùng thì phải đi qua chào tỉnh Phú Thọ. Một mặt là gặp mặt và nghe các đồng chí lãnh đạo báo cáo, mặt khác là các đồng chí ấy chiêu đãi một bữa. Mấy trăm con người chứ ít đâu. Hồi ấy cái nhà khách của tỉnh Phú Thọ còn đang trải giường bằng vạt tre. Một số giường nhà khách không có chiếu, hoặc là không cần chiếu, khách nằm trực tiếp trên vạt tre ấy, vừa mát mà lại êm. Nó là những đoạn tre vót tròn, mịn, nhỏ bện với nhau, tôi từng thấy nhiều nhà ở miền bắc ngày xưa dùng làm rèm cửa, vừa mát vừa ngăn được ruồi muỗi. Ấn tượng nhất là cái cách khiêm nhường pha chút trào lộng của ông bí thư tỉnh ủy khi ấy, ông Hữu Thỉnh (cũng dân Vĩnh Phú) bảo, Phú Thọ như anh cả, ở lại thờ cha mẹ, ông bí thư tỉnh ủy bảo, không chúng em là em út, ở nhà trông coi cha mẹ cho các anh các chị đi làm ăn xa, thi thoảng các anh chị về thăm cha mẹ thì chúng em là người đón tiếp, nếu có gì chưa phải thì mong các anh các chị thông cảm, vì ở nhà với cha mẹ nên không được đi nhiều, tầm mắt có hạn hẹp, cách ăn nói cũng chả được bóng bẩy, nấu ăn thì to mặn..., úi giời thế mà nơi ấy sinh ra những là Hoàng Hữu, Hữu Thỉnh, Phạm Tiết Duật, Ngô Ngọc Bội, Sao Mai, Nguyễn Hữu Nhàn... toàn những cái tên văn nhân nghe lên đã thấy khiếp. Mà đấy là mới kể thoáng nhé, chứ nếu chịu khó nhớ một chút nữa, lại chả kín trang giấy này. Mà lại còn ông Kim Ngọc lừng danh đang chiếu hàng đêm trên VTV1 kia nữa.

 

HTML clipboardĐặc sản nổi tiếng nhất, truyền đời của Phú thọ là thịt trâu các món điển hình là trâu nướng, rất phổ biến ở Thành Phố Việt Trì. Sau này, khi kinh tế đi lên, người ta biết đến một đặc trưng của Phú Thọ nữa là cá Lăng( loài cá có nhiều ở lưu vực sông Hồng, sông Lô tỉnh Phú Thọ ) nhưng hiện trạng ngày nay do săn bắt quá nhiều nên loài cá Lăng ở Phú Thọ gần như vắng bóng, chỉ còn những con cá cỡ nhỏ và trung bình. Những đội săn cá lăng Phú Thọ lại kéo nhau lên đầu nguồn sông Đà để săn loài cá này - với kích cỡ và trọng lượng được mệnh danh là " quái vật" sông Đà như trong các bài báo thường viết. Ngoài ra còn có cá Quất khổng lồ, cá Chiên, cá ngạnh. 
Đền Hùng tất nhiên là linh thiêng rồi. Con dân đất Việt, cố gắng ít nhất trong đời một lần về với tổ để thắp hương lạy tổ. Ngay khi chưa giải phóng Miền Nam thì ở Thủ Đức, có một ngôi chùa đã xây một cái Nam thiên nhất trụ, là cái chùa một cột y nguyên như từ Hà Nội, tỉ lệ 1/1, và luôn luôn đông đặc người đến thăm viếng, dù lúc ấy đang là chế độ cũ, nghe nói chả ủng hộ gì việc xây cất này nhưng bà con cứ làm. Mới đây, tại tỉnh Gia Lai, người ta cũng dựng một cái chùa một cột y như thế, và ngày giỗ tổ, ngày tết, cũng nườm nượp người khắp nơi đến chiêm bái. Ngày ấy tôi còn trẻ, thế nên đã làm đến hai vòng lên xuống đền Hùng. Hai lần soi cái mặt tí tớn của mình xuống giếng Ngọc. Mua một cuốn sách viết về ông Bút Tre, và bần thần thấy ông mất thiêng mất. Vì người ta bạch hóa về ông, và mới biết là những câu hay nhất của trường phái thơ Bút Tre lâu nay gán cho ông té ra không phải là của ông. Ông Bút Tre chỉ hay khi ông làm thơ... Bút Tre, chứ lại làm thơ kiểu ca ngợi quê hương Phú Thọ đổi mới, ca ngợi đồng xanh nước bạc, ca ngợi tình yêu thủy chung trong sáng, ca ngợi hợp tác xã với phân gio bèo giống, lợn lạc lúa lang luồng... là hỏng, hỏng hẳn Bút Tre. Chứng kiến thêm mấy cuộc cãi nhau giữa khách viếng đền và đội quân bán dạo đủ thứ, nhiều nhất là nhang- thực tế là đội quân này, toàn trẻ con, chửi khách- thấy thương cụ tổ của mình quá. Ai đời lên viếng cụ, cố giữ cho tâm thanh thản thế mà bị thằng con nít nó kèm một bên, nó dẫn đường, nó nói chuyện... Tốt quá đi chứ, nhưng lên đến nơi nó xin... tiền dẫn đường. Ngần ngừ chưa kịp đưa là ăn chửi. Hồi ấy Phú Thọ thoáng qua chứ chưa có khái niệm gì sâu sắc, vài bạn văn chương vừa kịp quen đã chia tay, nhớ có ghé nhà một bạn thơ Việt Trì có cửa hàng bán vật liệu xây dựng được đâu mười lăm phút. Ngay bạn cùng hội nghị thì cũng chưa kịp nhớ mặt nhau huống gì...

 

Sau này khi người ta xây và khánh thành một cái đền Mẫu rất lớn ở khu di tích Đền Hùng Việt Trì để thờ vọng (Đền quốc mẫu Âu Cơ chính gốc thờ Mẹ Âu Cơ được xây dựng từ thời Hậu Lê, nằm trên địa phận xã Hiền Lương, huyện Hạ Hoà, tỉnh Phú Thọ) thì tôi lại được cùng Phạm Xuân Nguyên tháp tùng giáo sư Văn Như Cương lên viếng đền, tất nhiên là lần này thì có vẻ như đã quen rồi. Ba chúng tôi lên đền, đến nửa chừng thì ông Cương bảo: "Thôi tôi ngồi đây, anh Hùng anh Nguyên cứ lên, khi xuống xuống lại đường này rồi ta cùng xuống. Thì đến tôi với Nguyên còn mệt huống gì ông..."

Bây giờ thì đền Hùng đã gọn gàng ngăn nắp hơn mấy lần tôi lên rất nhiều. Sự lộn xộn mất đi, cảnh quan nghiêm ngắn, dưới chân núi Nghĩa Lĩnh là một quần thể văn hóa du lịch. Một vườn tượng rất đẹp, một dãy nhà nghỉ, hàng loạt khu vui chơi, sự tổ chức khá khoáng hoạt và chuyên nghiệp chứ không úi xùi như dạo nào... Nhưng Phú Thọ ngoài đền Hùng ra thì vẫn còn bao điều đáng nói, đáng kể.

 

Chả hiểu sao lần nào đến hoặc đi qua Phú Thọ tôi đều xúc động. Và cách giải quyết nỗi xúc động ấy là tôi rút điện thoại gọi cho một tên Phú Thọ bạn tôi. Thì ra vai trò của văn chương, của lịch sử lớn thật, nó khiến cho những kẻ dẫu lần đầu nhoáng qua mà cứ như là thân thuộc lắm, mà nao nức như mình chuẩn bị gặp cố nhân, cố hương, gặp tuổi thơ lem láp thuở nào... Một cú điện thoại lúc non trưa cho Chử Anh Đào làm y cảm động. Hỏi có việc gì, bảo chả gì, chỉ là tớ đang đi qua quê ông, nhớ ông và sướng vì điều ấy nên gọi một cú khoe. Tôi có cái tật hay nghĩ và liên tưởng, nhớ lại. Đến đâu cũng nghĩ, cũng vẩn vơ nhớ lại. Như đến cầu Việt Trì thì nhớ cái câu nghêu ngao thời nhỏ trẻ con Miền Bắc hay hát dù chả biết Việt Trì là đâu: "Bố mi chết trên cầu Việt Trì, đêm ba mươi đánh điện về nhà, ò í e con bò kéo xe". Đến Phú Thọ lại nhớ rừng cọ đồi chè, nhớ bến Bình Ca, nhớ những đồi, những giếng đá ong dù cũng chưa bao giờ đến... Và tất nhiên bây giờ tôi nhớ, nơi ấy, hơn ba mươi năm trước, một gã trai đồng rừng Phú Thọ, quần ka ki, mũ lá, dép cao su, và cũng tất nhiên là ba lô lệch vai, vượt nhiều chặng xe đò vào Gia Lai nhận công tác sau khi tốt nghiệp đại học sư phạm Việt Bắc. Thế thì đương nhiên là tôi phải rút điện thoại ra và gọi cho y một cú thôi...

 

Thì là cái đận tôi ngược Yên Bái rồi trở về ấy. Các bạn Yên Bái rất nhiệt tình cho xe về, nhưng tôi lại thấy cái xe chất lượng cao vừa to vừa sang vừa ít khách lừ đừ chạy qua, thế là nhảy xuống không làm phiền nhau nữa. Mà ngồi trên cái xe này lại còn thoải mái lướt web, tất nhiên là bằng tiền của mình qua cái 3G. Đến Lâm Thao, nao nức sóng dồi thế nào tôi rút điện thoại gọi Đỗ Ngọc Dũng. Gã họa sĩ này rất nổi tiếng trong giới hội họa phía bắc, tranh rất đẹp, tôi thích xem vì không chỉ nó có bố cục và màu sắc sang, tươm tắn, dễ nhìn, mà còn thấy phía sau nó nhiều điều phải ngẫm phải ngợi. Tức là cái nỗi ám ảnh, sự liên tưởng khi rời bức tranh nó bắt ta cứ phải vân vi, phải như là mang nợ, như ám như vận vào ta một điều gì đó nửa day dứt nửa lại như thoát xác. Thế mà gã này lúc nào cũng rất thư sinh, luôn luôn áo trắng trong quần xanh, đầu bóng mướt, mặt hoan hỉ như vừa trúng số, giày luôn nháng xi, thi thoảng còn phơ phất chút mùi nước hoa. Cái xưởng vẽ của gã ngay trong nhà cũng sạch bong sạch ly dù lổn nhổn tranh đang làm, cả tượng nữa. Y đi lại trong nhà như một gã công tử đỏm dáng lượn giữa vương quốc của mình, mà tài sản là những bức tranh và vợ và con gái. Người thế mà lại vô cùng chiều vợ và con, chỉ nhìn cái cách tôi được dẫn vào để giới thiệu là đủ biết. Một gã nhạc sĩ phía nam suốt đời mặc quần gin áo ký giả giầy lười mốc, lần đi họp liên hiệp các hội VHNT Việt Nam gặp Đỗ Ngọc Dũng xong bảo: Tôi không thiện cảm với cha này, vì trông hắn cứ như thằng vừa từ phòng họp máy lạnh ra. Đến khi nghe tôi kể về các lần triển lãm, về số lượng tranh khổng lồ mà Dũng vẽ, về sự lao động quần quật của Dũng, về cả việc y là chủ tịch cái hội VHNT vào loại oách nhất nước đấy, thì đổi thái độ và phục sát đất. Tôi gọi cho Dũng và y hoan hỉ quát lên trong máy: "Ông xuống xe nhé, xuống ngay khi xe đến Việt trì nhé. Ôi giời ôi, mấy khi, ngồi với nhau một cuộc cho oách nhé". Tôi biết gã này quý nhau thì quát tướng lên thế chứ y chả uống éo bao nhiêu. Mà ngồi tay đôi thế thì cũng chán vì lúc này đã 12 giờ trưa rồi. Bèn một cú nữa cho Nguyễn Tham Thiện Kế, cũng là một quái nhân của Phú Thọ. Đẹp trai, tài hoa, các em cứ gọi là đứ đừ khi nghe y ba hoa. Gã này tôi gặp lần đầu là khi cùng ông Văn Như Cương và Phạm Xuân Nguyên lên Việt trì đận ấy. Khuya, ông Cương đã ngủ, tôi và Nguyên lần thần: Quái, lên đây chỉ để ngủ thì... phí quá. Lôi điện thoại gọi hết người này người khác đều không được, cuối cùng Nguyên bảo: "Còn thằng này, nó mà không đến thì tao với mày... ngủ". Thế mà Kế đến, hắn lái hẳn con xế hộp ầm ầm lao đến với câu dọa: "Mẹ các ông, nửa đêm còn bắt tôi vòng tay xin vợ để đi, giờ đã đánh xe ra khỏi nhà được rồi thì sẽ phải ngồi suốt đêm với tôi, lên xe đi". Hai thằng tôi xanh mặt sợ phải ngồi đến sáng thật, nhưng may, chỉ chừng 2 giờ hôm sau thì... buông được nhau ra, thằng nào đi đường thằng ấy...

Văn Công Hùng

(Còn Tiếp)

Chủ đề:
Bình luận

TIN TỨC NÊN ĐỌC

Báo Điện tử VTC News

Tin tức trong ngày mới