Michael Ware - Câu chuyện của một nhà báo chiến trường

“Đừng đánh đồng tôi với những kẻ khác và đừng bắt tôi phải về nhà” – Michael mỉm cười – “Tôi đã quên mất đường về rồi.”

Để hiểu thêm về gã và công việc mà gã đang làm, không gì tốt hơn là một ví dụ… Đó là một lần tác nghiệp ở chiến trường Fallujah, Iraq vào tháng 11 năm 2004… Nửa đêm, tiểu đội lính thủy đánh bộ mà gã được lệnh đi theo tác nghiệp đã bao vây 6 quân khủng bố trong một tòa nhà; 4 bề là tường bao vây kín, không một chút ánh sáng bên trong, cách duy nhất để khiến chúng lộ mặt là phải liều thân vào trong và bắt từng tên ra. Trung sỹ David Bellavia tỏ ra khá thận trọng trong tình huống này bởi ông và binh sỹ của mình có thể chết bất cứ lúc nào khi dính đạn tỉa từ các tòa nhà lân cận, việc đó rất mạo hiểm. Cuối cùng ông muốn có vài người tình nguyện theo ông: 3 người giơ tay trong đó có Michael – lúc đó đang làm việc cho tờ Time – tay không mang súng, không có kính hồng ngoại; lý do nào khiến gã hành động như vậy? Chỉ là vì gã không thể chỉ đứng ở ngoài và chờ đợi.

 

 


Michael Ware tay mang máy quay, bước chậm rãi sau Trung sỹ Bellavia vài mét. Chiếc camera chả bắt được gì ngoài bóng đêm hun hút và những tiếng chân vang vọng nghe sởn gai ốc. Sau đó, ánh lửa lóe lên, 1 lượt đạn chớp nhoáng, trước khi Michael nhận biết điều gì đang xảy ra thì đã có 2 xác binh sỹ tử nạn ngã vật xuống ngay cạnh gã… Một giờ sau đó, 6 kẻ khủng bố đã bị hạ gục, Michael Ware mang về một thước phim đen xì với những tiếng súng chát chúa và la hét ghê rợn.

Tuy những gì quay được chỉ toàn bóng đêm nhưng Michael vẫn tin rằng chỉ riêng âm thanh lúc đó đã khiến người xem hiểu được sự đáng sợ của chiến tranh. Gã muốn công chiếu những gì thu được cho khán giả ở Mỹ xem, đương nhiên là với giàn âm thanh trung thực  khổng lồ, bởi đoạn phim chỉ toàn tiếng chứ không có hình. “Tôi thực sự muốn mọi người trải qua cảm giác ấy một lần” – gã nói – “chiến tranh là một trải nghiệm kinh hoàng.”

Những gì “tù binh chiến tranh” của CNN đã từng trải qua vẫn còn ám ảnh gã cho đến tận bây giờ. Từ đầu năm 2003, trước khi quân đội đến Iraq thì Michael đã có mặt ở đó rồi, chưa kể việc vừa phải lăn lộn 13 tháng liên tục ở chiến trường Afghanistan. Trong khoảng thời gian đó, Michael đã chịu đủ mọi hình thức khủng bố tinh thần và thể xác. Gã từng bị xơi “kẹo đồng”, bị truy đuổi ráo riết, bị trói và tống vào thùng xe, bị ra lệnh xử tử, bị bắt cóc… Và có một lần năm 2004, trong một đợt càn quét diện rộng của quân khủng bố Abu Musab al-Zarqawi, tử thần đã xém gáy gã. Những tên khủng bố bắt cóc Michael đến một tòa nhà ở Baghdad, bịt mắt và treo khẩu hiệu lên người hắn, chuẩn bị cho cuộc hành quyết được ghi hình lại bằng chính chiếc máy quay mà gã mang theo… cho đến khi một người bạn người bản xứ dùng hết khả năng thuyết phục, cầu xin bọn chúng tha tội cho gã. “Ba ngày sau hôm hành quyết ấy, tôi không thể nhấc chân rời khỏi khách sạn đang ở” – Michael kể lại trong sợ hãi – “…nôn mửa và không ăn được gì cả tuần liền.”

 

 


Rồi mọi chuyện qua đi, Michael lại đắm mình trong niềm đam mê bất tận với chiến trường. Dường như gã đã “nghiện” những điểm nóng quân sự. Tại sao? - “Anh có muốn thấy những điều thực sự tồi tệ trong cuộc sống?” – Michael nói – “Cuộc sống thực sự trở thành cái gì đó rất trân quý khi chiến tranh nổ ra. Nếu được chứng kiến tận mắt và tìm kiếm câu trả lời cho mình, anh sẽ thấy nó làm thay đổi cuộc sống của mình”.

Trả lời về lý do đến với nghề nguy hiểm của mình, Michael có nhắc đến một nhà quay phim người Úc tên là Neil Davis – từ bé Michael đã chăm chú nghe những cuộc phỏng vấn của ông. Davis chính là phóng viên đã ghi lại những thước phim quý báu trên chiến trường Việt Nam, khi chiếc xe tăng của quân Giải phóng cán đổ cánh cửa tiến vào dinh Độc Lập; ông cũng nổi tiếng với thước phim quay lại cái chết của chính mình trong cuộc đảo chính ở Bangkok (Thái Lan) năm 1985.

“Từ đó đến nay, tôi đã trở thành một gã tù binh chiến tranh” – Michael cười chua chát – “Sau 7 năm đằng đẵng tác nghiệp trên mọi chiến trường, tôi lúc nào cũng ở trong tình trạng cảnh giác cao độ, luôn đặt mình trong tình trạng báo động”. Làm việc trên chiến trường lâu năm đã gây nên những hậu quả không thể bù đắp cho một phóng viên. Michael luôn tự nhắc bản thân rằng mọi thứ đều có thể gây nguy hiểm đối với anh, và một khi “chuông báo động” đó đã kêu thì rất khó tắt nó đi; sự cảnh giác đã trở thành thói quen của gã và khiến gã mệt mỏi. Có câu chuyện kể về một phóng viên chiến trường nổi danh, khi trở về nhà, anh ta nhận ra rằng cái giá mà mình phải trả là ly dị vợ hoặc có rất nhiều vợ cũ, không có con hoặc có những đứa con không bao giờ nói chuyện với cha chúng, còn những ký ức kỷ niệm đẹp cứ thế phai nhạt dần… “Sau khi trở về nhà, điều một phóng viên chiến trường cần làm đầu tiên chính là bắt đầu lại cuộc sống” – Michael Ware nói.

Nhưng đó là điều mà gã khó có thể làm được. Michael không tài nào quên được những đồng nghiệp và bạn đồng hành của anh trên chiến trường Iraq: phiên dịch viên, tài xế và kỹ thuật viên. Ít nhất 3 trong số họ đã từng bị tra tấn, đánh đập, đe dọa trong khi tác nghiệp cùng gã.

Michael cảm thấy mình phải có trách nhiệm với họ và cảm thấy có lỗi khi đột nhiên rời Iraq. “Tôi đang ngồi đây và cố gắng tự nhủ rằng tôi đã không bỏ rơi họ trên chiến trường, nhưng không thể” – Michael thổ lộ - “Anh không thể nói rằng: này các bạn, chúng ta đã có thời gian làm việc vui vẻ, nếu sau 10 năm nữa anh còn sống thì hãy gọi điện cho tôi nhé! Không, mọi thứ không đơn giản như thế… tôi cũng không chắc rằng họ còn sống.”

 

 


6 năm vừa qua đã ám ảnh gã đến khốn khổ. Ngay cả khi đang vui chơi cùng bạn bè ở Amsterdam, Michael tưởng như mình đang kẹt ở Kirkuk, khi đang ở New York, gã tưởng mình đang còn ở Diyala…(Iraq)

Một trong những nguyên nhân khiến gã trở thành “kẻ mộng du” mỗi đêm chính là một đoạn phim gã đã ghi lại vào mùa xuân năm 2007 ở Iraq – một đoạn phim mà CNN đã từ chối công chiếu.

Lúc ấy Michael cùng tiến quân với một tiểu đội lính bắn tỉa vào Diyala – một ngôi làng nhỏ phía Bắc Baghdad, Iraq – trong chiến dịch truy quét tàn quân. Họ đến nơi lúc chiều tối, và tỏ ra rất thận trọng tiến vào khu làng mặc dù kẻ địch đã rút lui hết từ trước đó, bỏ lại ngôi làng trơ trọi. Bỗng tiếng súng vang lên, một tay súng bắn tỉa người Mỹ đã trông thấy một bóng người lăm lăm vũ khí trên tay và lập tức nhả đạn. Họ tiến đến gần và phát hiện ra đó chỉ là một đứa trẻ. Cậu bé vẫn còn sống nên họ kéo cậu về một khu vực an toàn.

“Khoảng 20 phút sau đó” – Michael nhớ lại – “Tất cả chúng tôi chỉ ngồi đó và nhìn cậu bé chết dần trong những tiếng thở khó khăn và nỗi đau đớn ghê gớm về thể xác. Không có bất cứ sự hỗ trợ y tế nào cả…”. Nếu đó là một lính Mỹ, sau 20 phút sẽ có một chiếc trực thăng với cáng cứu thương và thuốc men đầy đủ đáp xuống. “Tôi không nghĩ rằng có thể cứu được cậu ta, nhưng ít ra tôi cũng có thể làm cái chết đó đỡ đau đớn hơn”.

Thay vào đó, một tấm vải liệm mỏng được phủ lên trên mặt cậu bé nọ, khiến cho hơi thở của cậu càng khó khăn hơn… và người ta tiếp tục nhìn cậu chết dần.

 “Tôi cứ tự hỏi mình trong nhiều đêm, tại sao lại là tôi và tiểu đội lính đó? Tại sao tôi phải chứng kiến cảnh tượng đó và thương cảm cho số phận của cậu bé kia vì cái cách mà người ta đứng nhìn nó chết dần” – Michael tâm sự - “Tôi cũng nhận ra rằng chính tôi cũng đứng đó và chỉ quan sát mà thôi. Không có ai phải chịu trách nhiệm cả. Một lần nữa tôi nhận ra rằng, những tình huống phi nhân tính này xảy ra khi người ta đưa những đứa trẻ tham gia chiến trường”.

 Khánh Duy

Bình luận
Tin tuc trong ngay hom nay

Tin tức trong ngày mới