Chăm sóc y tế cho người bị bệnh nghề nghiệp

Người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp (TNLĐ, BNN) bên cạnh được quỹ BHXH chi trả các chế độ TNLĐ, BNN còn được chủ sử dụng lao động thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp theo quy định.

Khuyến khích bồi thường cao hơn luật định

Luật sư Nguyễn Văn Cường, (Công ty Luật TNHH Cường và Cộng sự- TP.HCM) cho biết thực tế đã từng phát sinh nhiều tranh chấp khi người lao động bị TNLĐ, BNN.

Nhiều trường hợp không thể giải quyết tranh chấp khi các bên không xác định được trách nhiệm bồi thường, quyền lợi liên quan và phải khiếu kiện kéo dài. Thông tư 04/2015/TT -BLĐTBXH của Bộ LĐ-TB&XH có hiệu lực từ ngày 20/3/2015 về thực hiện chế độ bồi thường, trợ cấp và chi phí y tế của người sử dụng lao động đối với người lao động bị TNLĐ, BNN đã cụ thể các trường hợp bồi thường; giải quyết các phát sinh tranh chấp.
Người lao động được hưởng quyền lợi về TNLĐ, BNN
Người lao động được hưởng quyền lợi về TNLĐ, BNN 
Người lao động được bồi sẽ được bồi thường TNLĐ, BNN khi xảy ra một trong các trường hợp sau: Người lao động bị TNLĐ làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc bị chết trừ trường hợp TNLĐ mà nguyên nhân xảy ra tai nạn hoàn toàn do lỗi của chính người lao động bị nạn theo kết luận của biên bản điều tra TNLĐ (kể cả trường hợp người lao động bị tai nạn khi thực hiện nhiệm vụ hoặc tuân theo sự điều hành hợp pháp của người sử dụng lao động ở ngoài phạm vi doanh nghiệp cho dù do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn).

Người lao động bị BNN theo kết luận của Hội đồng Giám định Y khoa hoặc của cơ quan pháp y có thẩm quyền, thì được bồi thường trong các trường hợp sau: Bị chết do BNN khi đang làm việc hoặc trước khi chuyển làm công việc khác, trước khi thôi việc, trước khi mất việc, trước khi nghỉ hưu; bị suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên do BNN theo kết quả thực hiện khám giám định BNN định kỳ.

bồi thường thực hiện theo nguyên tắc bị lần nào thì thực hiện bồi thường lần đó. Mức bồi thường được tính như sau: Đối với người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên hoặc bị chết do TNLĐ, BNN ít nhất bằng 30 tháng tiền lương; đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 10%: ít nhất bằng 1,5 tháng tiền lương; đối với người bị suy giảm khả năng lao động từ 11% đến 80% thì cứ tăng 1% sẽ được cộng thêm 0,4 tháng tiền lương.

Việc trợ cấp TNLĐ được thực hiện trong trường hợp người lao động bị tai nạn làm suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên hoặc bị chết thì được trợ cấp khi xảy ra một trong những trường hợp sau: Nguyên nhân xảy ra tai nạn lao động hoàn toàn do lỗi của chính người lao động bị nạn theo kết luận của biên bản điều tra TNLĐ; Tai nạn xảy ra đối với người lao động khi đi từ nơi ở đến nơi làm việc hoặc từ nơi làm việc về nơi ở, tại địa điểm và thời gian hợp lý (kể cả trường hợp do lỗi của người khác gây ra hoặc không xác định được người gây ra tai nạn).

Theo luật sư Nguyễn Văn Cường, các mức bồi thường, trợ cấp theo quy định tại Thông tư 04 là mức tối thiểu. Nhà nước khuyến khích người sử dụng lao động bồi thường, trợ cấp cho người lao động ở mức cao hơn luật định.

Được hưởng chế độ BHXH về TNLĐ, BNN

Bên cạnh việc bồi thường như trên, trợ cấp TNLĐ, BNN như trên, bà Lê Ngọc Mai - Phó Giám đốc BHXH Đồng Nai, cho biết người lao động vẫn được hưởng chế độ BHXH về TNLĐ, BNN theo quy định của pháp luật về BHXH (nếu có tham gia BHXH bắt buộc).

Theo đó, đối với chế độ TNLĐ, người lao động đang đóng BHXH bị TNLĐ trong các trường hợp dưới đây dẫn đến suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên thì được hưởng trợ cấp TNLĐ do quỹ BHXH chi trả gồm: Bị tai nạn tại nơi làm việc và trong giờ làm việc; Bị tai nạn ngoài nơi làm việc hoặc ngoài giờ làm việc khi thực hiện công việc theo yêu cầu của người sử dụng lao động; Bị tai nạn trên tuyến đường đi và về từ nơi ở đến nơi làm việc trong khoảng thời gian và tuyến đường hợp lý.

Với chế độ BNN, người lao động được hưởng trợ cấp BNN do quỹ BHXH chi trả khi bị bệnh thuộc danh mục BNN do làm việc trong môi trường hoặc nghề có yếu tố độc hại dẫn đến suy giảm khả năng lao động từ 5% trở lên.

Về quyền lợi được hưởng, người lao động bị TNLĐ, BNN sau thời gian điều trị ổn định thương tật, bệnh tật được giám định mức suy giảm khả năng lao động để làm căn cứ xác định mức trợ cấp được hưởng, cụ thể như sau: Trợ cấp một lần, áp dụng cho người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 5% đến 30% hoặc bị chết do TNLĐ, BNN.
 
Trường hợp người lao động chết do TNLĐ, BNN kể cả chết trong thời gian điều trị lần đầu thì ngoài hưởng chế độ tử tuất theo quy định, thân nhân còn được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 tháng lương tối thiểu chung. Trợ cấp hàng tháng, áp dụng cho người bị suy giảm khả năng lao động từ 31% trở lên. Đối với trường hợp người lao động bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà bị liệt cột sống hoặc mù hai mắt hoặc cụt, liệt hai chi hoặc bị bệnh tâm thần thì ngoài mức hưởng nêu trên, hàng tháng người lao động còn được hưởng trợ cấp phục vụ bằng mức lương tối thiểu chung.

Ngoài ra, người lao động hưởng trợ cấp TNLĐ, BNN hàng tháng nếu tiếp tục làm việc và tham gia đóng BHXH, ngoài hưởng trợ cấp TNLĐ hàng tháng theo quy định, khi đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí thì được hưởng đồng thời cả lương hưu; nếu không còn làm việc thì được cấp thẻ BHYT do quỹ BHXH đảm bảo.

Người lao động sau khi điều trị ổn định thương tật, bệnh tật do TNLĐ hoặc BNN mà sức khỏe còn yếu thì được nghỉ dưỡng sức, phục hồi sức khỏe từ 5 đến 10 ngày tùy theo mức suy giảm khả năng lao động; mức hưởng cho mỗi ngày bằng 25% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại gia đình và bằng 40% mức lương tối thiểu chung nếu nghỉ tại cơ sở tập trung.

Người lao động bị TNLĐ, BNN mà bị tổn thương các chức năng hoạt động của cơ thể thì được cấp phương tiện trợ giúp sinh hoạt theo niên đại và phù hợp với tình trạng thương tật, bệnh tật như: chân, tay giả; mắt giả; răng giả; xe lăn, xe lắc; máy trợ thính….

30 loại BNN được bồi thường theo quy định hiện hành

Nhóm I gồm các bệnh bụi phổi và phế quản: Bệnh bụi phổi - Silic nghề nghiệp; Bệnh bụi phổi Atbet (Amiăng); Bệnh bụi phổi bông; Bệnh viêm phế quản mạn tính nghề nghiệp; Bệnh hen phế quản nghề nghiệp; Bệnh bụi phổi - Tacl nghề nghiệp; Bệnh bụi phổi Than nghề nghiệp.

Nhóm II gồm các bệnh nhiễm độc nghề nghiệp: Bệnh nhiễm độc chì và các hợp chất chì; Bệnh nhiễm độc Benzen và các hợp chất đồng đẳng của Benzen; Bệnh nhiễm độc thủy ngân và các hợp chất của thủy ngân; Bệnh nhiễm độc mangan và các hợp chất của mangan; Bệnh nhiễm độc TNT (trinitro toluen); Bệnh nhiễm độc asen và các chất asen nghề nghiệp; Nhiễm độc chất Nicotin nghề nghiệp; Bệnh nhiễm độc hóa chất trừ sâu nghề nghiệp; Bệnh nhiễm độc Cacbonmonoxit nghề nghiệp; Bệnh nhiễm độc Cadimi nghề nghiệp.

Nhóm III gồm các bệnh nghề nghiệp do yếu tố vật lý: Bệnh do quang tuyến X và các chất phóng xạ; Bệnh điếc do tiếng ồn; Bệnh rung chuyển nghề nghiệp; Bệnh giảm áp mạn tính nghề nghiệp; Bệnh nghề nghiệp do rung toàn thân.

Nhóm IV gồm các bệnh da nghề nghiệp: Bệnh sạm da nghề nghiệp; Bệnh loét da, loét vách ngăn mũi, viêm da, chàm tiếp xúc; Bệnh nốt dầu nghề nghiệp; Bệnh loét da, viêm móng và xung quanh móng nghề nghiệp.

Nhóm V gồm các bệnh nhiễm khuẩn nghề nghiệp: Bệnh lao nghề nghiệp; Bệnh viêm gan vi rút nghề nghiệp; Bệnh do xoắn khuẩn Leptospira nghề nghiệp; Nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp.

Bài viết phục vụ Dự án “Tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về an toàn lao động, vệ sinh lao động năm 2015”

Trà Giang
Chủ đề:
Bình luận

Muỗi 'không có cửa' đốt người ở quốc gia này để lây sốt xuất huyết 

TIN TỨC NÊN ĐỌC

Báo Điện tử VTC News