Béo phì trẻ em: Có nên thắt dạ dày, bóc mỡ?

(VTC News) – Trẻ em với cân nặng quá khổ có nên tiến hành thắt dạ dày, bóc mỡ để cứu các em? Các chuyên gia về dinh dưỡng phân tích những giải pháp tốt nhất đối với trẻ em béo phì là gì?

Béo phì và vô sinh

Thạc sĩ, Bác sĩ Phan Bích Nga, Phó giám đốc Trung tâm tư vấn phục hồi dinh dưỡng và kiểm soát béo phì, Viện dinh dưỡng Quốc gia cho biết: “Tỉ lệ các cháu đến khám béo phì thấp hơn so với các rối loạn dinh dưỡng khác.

Trẻ béo phì càng lâu sẽ khó điều trị.

Những năm 2003- 2004, tỉ lệ này thấp chỉ 1 – 2% sau đó tăng dần. Hiện nay tỉ lệ các cháu béo phì đến khám chiếm 7 – 8% vẫn là rất khiêm tốn. Trong khi đó, các cháu đến khám suy dinh dưỡng khoảng 50 – 60%, còi xương khoảng 60% nhưng béo phì vẫn dưới 10%.

Điều này nói lên ý thức các phụ huynh chưa để tâm nhiều đến khám béo phì cho con. Họ chưa thấy đó là vấn đề đáng lo ngại và ảnh hưởng đến sức khỏe. Vì nhiều người vẫn quan niệm “béo đẹp, béo khỏe. Thông thường, những trẻ đó khi bé rất khỏe mạnh, ít ốm đau, ăn dễ, ngủ dễ. Vì vậy, các bậc cha mẹ rất hay chủ quan. Nhưng sau này, các cháu có nguy cơ mắc nhiều bệnh”.

Béo phì nặng từ độ 2 trở lên đa phần là do bệnh lý. Béo phì dẫn đến rối loạn tâm sinh lý trẻ làm trẻ dậy thì sớm. Khi trẻ trưởng thành béo phì gây rối loạn chức năng sinh sản, khó có con.

Trẻ béo phì sớm bị đái tháo đường, bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch, cao huyết áp, các bệnh lý về thận, ung thư xương.

Bác sĩ Nga phân tích: Ung thư xương vì tế bào mỡ khi bị phì đại, không ở kích thước bình thường sẽ rất khó thu nhỏ. Nó tràn lan và xâm lấn vào các cơ quan tổ chức. Khi đó nó gây ra rối loạn điều tiết hormone của cơ thể và gây rối loạn chuyển hóa trong đó có gây ra ung thư xương.

Việc phá vỡ sự cân bằng hormone của cơ thể khiến béo phì trở thành một yếu tố nguy hiểm gây vô sinh ở cả nam và nữ.

Việc suy giảm chức năng buồng trứng là yếu tố chính dẫn tới vô sinh ở phụ nữ béo phì. Sự bất thường trong nồng độ các hormone như là androgen, estrogen và progesteron có thể làm thay đổi chu kỳ kinh nguyệt của phụ nữ.

Nồng độ lý tưởng của các loại hormone này là thực sự rất cần thiết cho việc thụ thai và mang thai. Sự tích tụ chất béo ở buồng trứng cũng làm đảo lộn sự phát triển của bào thai và dẫn tới sảy thai.

Đối với nam giới, béo phì có liên quan mật thiết với vô sinh ở nam giới. Các tế bào chất béo sản sinh estrogen và nam giới càng có nhiều tế bào chất béo càng tăng số lần tuần hoàn estrogen trong cơ thể so với những người có cân nặng bình thường. Điều này dẫn tới nguy cơ vô sinh ở nam giới, gây ra sự sản sinh tinh trùng không bình thường.

Có nên thắt dạ dày, cắt mỡ?

Về nguyên nhân béo phì, bác sĩ Nguyễn Thị Hoa, trưởng khoa Dinh dưỡng, bệnh viện Nhi đồng 1, TP.HCM cho rằng 10% trẻ em béo phì do yếu tố nội sinh, 90% do ngoại sinh.

 

Với cháu bé nên cho ăn theo nhu cầu dinh dưỡng chứ không phải ăn theo khả năng. Nhu cầu ở đây là mức dinh dưỡng được khuyến cáo cho từng lứa tuổi. Với trẻ béo không có nghĩa là hoàn toàn phải kiêng mỡ. Mức tối thiểu ở mức chiếm 20% năng lượng khẩu phẩn.

Bác sĩ Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng viện dinh dưỡng Quốc gia

Nội sinh gây béo phì có thể do gen, rối loạn nội tiết… Còn ngoại sinh do môi trường bên ngoài, chế độ dinh dưỡng vượt quá nhu cầu, ít vận động.

Phương pháp chữa trị là tìm ra nguyên nhân cụ thể để giải quyết. Nhưng với nguyên nhân nội sinh cũng khó khăn để chữa trị.

“Với trẻ em béo phì chủ yếu do yếu tố ngoại sinh, trong phác đồ điều trị là kiểm soát chế độ ăn, tập luyện, trẻ con không dùng thuốc. Với biện pháp bóc mỡ, thắt đai dạ dày, không được áp dụng với trẻ con”, bác sĩ Hoa nói.

Còn theo bác sĩ Nga: Có những trường hợp khó, béo phì do rối loạn nội tiết. Khi đó, bệnh nhân đến khám tại Viện dinh dưỡng sẽ được chuyển đến khoa nội tiết, bệnh viện Nhi Trung Ương hoặc bệnh viện nội tiết.

Có những biểu hiện béo phì do bệnh lý hiếm gặp như u ở thùy sau tuyến yên. Vấn đề về rối loạn chuyển hóa lipid máu do nguyên nhân bẩm sinh.

Cũng có trường hợp béo phì do di truyền. Các nghiên cứu thống kê cho thấy, nếu bố mẹ cùng béo phì thì khả năng con bị béo phì lên tới 70 – 80%. Một mình bố hoặc mẹ béo phì, con sẽ bị nguy cơ 40%.

Còn lại các cháu béo phì do chế độ ăn. Cũng có thể các cháu béo phì còn có sự kết hợp di truyền với chế độ ăn.

Theo bác sĩ Nga, với bệnh lý u ở não thì phải điều trị bên thần kinh, làm các xét nghiệm chẩn đoán vị trí u, kích thước. Bác sĩ chuyên khoa sẽ cho hướng điều trị phù hợp với việc khả năng chèn ép xung quanh của khối u. Thậm chí có thể phải phẫu thuật.

Nếu béo phì do nguyên nhân di truyền rối loạn lipid máu phải điều trị bằng thuốc. Đây là những trường hợp nặng, khó khăn. Vì những thuốc điều trị này rất hại gan, thận, uống vào, trẻ sẽ thấy rất mệt.

Trong trường hợp béo phì thông thường do chế độ ăn thừa năng lượng. Đối tượng này hay gặp ở những trẻ vận động ít.

Về phương pháp mạnh để giảm béo phì như thắt eo dạ dày, bóc mỡ, các bác sĩ đều cho rằng, phương pháp này chỉ áp dụng với những người trưởng thành trên 18 tuổi chứ không dành cho trẻ em.

Kể cả với trường hợp người trưởng thành có nhiều trường hợp thất bại, gây biến chứng nguy hiểm.

Rủi ro của một cuộc mổ, tuột đai thắt, biến chứng bệnh lý dạ dày. Thậm chí, có thể tử vong. Còn bóc mỡ cơ thể lại đùn mỡ trở lại nếu không có phương pháp kiêng khem hợp lý trong dinh dưỡng.

Có nên có chế độ ăn uống kiêng khem tuyệt đối cho trẻ?

Béo phì ở trẻ em khác người lớn. Người lớn khi đã trưởng thành rồi có thể kiêng khem tuyệt đối. Nhưng trẻ em vẫn phải phát triển cơ thể. Vì vậy, cần có một chế độ ăn cân bằng.

Nếu kiêng khem quá thì ảnh hướng đến tốc độ lớn của trẻ. Phải đảm bảo năng lượng đủ, đảm bảo lượng đạm. Vì đạm, nhất là đạm động vật rất cần cho sự phát triển của trẻ cùng với chất béo.

Chất béo tối thiểu vẫn cần 20 – 25 gr/ngày, chất béo vẫn là cả dầu, mỡ.

Trẻ béo phì vẫn cần bổ sung thực phẩm giàu canxi như tôm, cua cá, bổ sung sữa nhưng khuyến cáo nên sử dụng sữa tách béo. Ngoài ra, cần ăn tăng rau, củ chất xơ.

Chế độ ăn cho trẻ béo phì thường phải giảm chất bột, giảm chất béo. Nhất là thịt mỡ, thậm chí hạn chế ăn thịt lợn vì trong thịt nạc của lợn, hàm lượng chất béo vẫn khá cao. Hạn chế cho trẻ ăn món xào rán.

Bác sĩ Nga chia sẻ: “Trẻ em từ 11 tuổi trở lên sau khi áp dụng điều trị bằng phương pháp dinh dưỡng, ăn uống đã cân bằng mà vẫn béo phì thì cần xem xét bé có bị rối loạn nội tiết hay không.  Điều trị béo phì càng sớm càng tốt, càng để lâu thì khả năng điều trị thành công càng khó. Trẻ đến khám ở trung tâm  chúng tôi sẽ được tư vấn chế độ ăn, hoạt động hợp lý. Và điều trị có thành công hay không cần có sự tác động, giúp đỡ của bố mẹ.

Chúng tôi hướng dẫn cả chế độ vận động, phải chơi các môn thể thao vận động nhiều, ra nhiều mồ hôi, kết hợp tăng chiều cao”.

Tính cân nặng tiêu chuẩn của trẻ em

 Với trẻ em từ sơ sinh đến 6 tháng tuổi:

Cân nặng lý tưởng (kg) = Cân nặng sơ sinh (kg) + Số tháng tuổi x 0,6

Ví dụ: Một em khi mới sinh có cân nặng 3,0 kg, sau 3 tháng số cân cần có là: 3,0 kg + (3 x 0,6) = 3,0 x 1,8 = 5,4 kg. Sau 5 tháng số cân cần có là 9,0 kg.

Với trẻ từ 7 tháng tuổi đến 12 tháng tuổi:

Cân nặng lý tưởng (kg) = Cân nặng sơ sinh (kg) + 3,6 + 0,5 x (Số tháng tuổi x 0,6)

Ví dụ: Một em khi mới sinh nặng 3,0kg sau 8 tháng tuổi số cân nặng cần có sẽ là: 3,0kg + 3,6 + 0,5 (8 x 0,6) = 6,6 + 2,4 = 9,0 kg.

Với trẻ từ 2 – 12 tuổi:

Cân nặng lý tưởng (kg) = 8 + (số năm tuổi x 2).

Ví dụ: Một em tròn 5 tuổi, số cân nặng cần có là:

8 + (5 x 2) = 18 (kg).

Để đánh giá mức độ béo phì ta dùng công thức tính % độ béo như sau:

Độ béo (%) = (Cân nặng thực tế - Cân nặng tiêu chuẩn): Cân nặng tiêu chuẩn x 100

Phân loại mức độ béo:

Bình thường: Cân nặng tiêu chuẩn ± 10% độ béo.

Thừa cân: Cân nặng tiêu chuẩn > 10% - 20% độ béo.

Béo phì độ I: Cân nặng tiêu chuẩn > 20% - 30% độ béo.

Béo phì độ II: Cân nặng tiêu chuẩn > 30% - 50% độ béo

Béo phì độ III: Cân nặng tiêu chuẩn > 50% độ béo.

Th.S Nguyễn Điểm, Trường Đại học Quy Nhơn

» Kỷ lục 'bé khổng lồ' ở Việt Nam: 13 tuổi nặng 100kg
» Bé trai 2 tuổi khổng lồ ở Hòa Bình: Quá bất thường!
» Khi con bị chế nhạo
» Mách nhỏ cách chọn trang phục cho cô nàng “béo ú”

Nguyễn Tâm

Chủ đề:
Bình luận

TIN TỨC NÊN ĐỌC