Sống trong sự “hù doạ” của vị thần cầm lưỡi hái. Thế nhưng, ĐVT, tên người tử tù mà tôi đã gặp trong chuyến công tác cuối năm tại Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An ấy thì hoàn toàn khác. T yêu đời, yêu cuộc sống đến kỳ lạ. Bởi tình yêu hết đỗi tha thiết ấy mà những ngày sống trong bốn bức tường lạnh lẽo, chờ cái chết được báo trước ập đến với mình, T làm thơ. Bất ngờ hơn, đó là những vần thơ trĩu nặng một lòng biết ơn cuộc sống, biết ơn những người đã dang tay cứu vớt hồn mình...
Đường vào cửa chết
Khi biết tôi có ý định tìm hiểu đời sống của những tử tù, Thượng tá Nguyễn Duy Tỵ., Giám thị trại đã giới thiệu, trong số hơn 15 tử tù đang được giam giữ để chờ thi hành án tại trại thì ĐVT là một tử tù đặc biệt. Đặc biệt cả về tính cách lẫn... số phận của mình.
T được giam giữ trong trại đã hơn chục năm. Đến giờ, trong trại vẫn không ai biết bởi nguyên do gì mà ngần ấy năm trời “thần chết” lại chưa tìm về gõ cửa. Trong lịch sử trại, theo Thượng tá Tỵ, chưa một “người mang tội chết” nào lại có thời gian chờ thi hành án... lâu đến vậy.
Trên đời, có nỗi khổ, nỗi sợ hãi nào bằng những ngày... đợi chờ cái chết. Bởi vậy, thời gian ấy càng kéo dài thì khổ đau, hoảng sợ càng thêm chồng chất. Và, nhiều trường hợp tử tù như hoá điên bởi những sợ hãi đêm ngày hành hạ.
Tuy mới về nhận công tác tại trại có vài tháng nay, nhưng theo Thượng tá Tỵ thì qua những lần vào buồng gian động viên, thăm hỏi, sự hồn nhiên, yêu đời của T khiến anh đặc biệt có cảm tình.
Tại phòng gác ngay cạnh buồng giam của mình, T đón tôi bằng nụ cười tươi roi rói. T kể, T sinh năm 1974 ở một thuộc xã Mỹ Sơn, huyện Đô Lương, Nghệ An. Nhà làm nông lại có những 6 người con nên bố mẹ T chịu nhiều cơ cực. Tuổi thơ của T là những ngày lấm lem với đồng, với ruộng thế những cái đói vẫn canh cánh túc chờ.
| |
|
ĐVT luôn yêu đời cho dù cái chết được báo trước. |
Lớn lên, muốn thay đổi cảnh sống bần hàn, T tính nước thoát ly những mong những ngày kiếm kế sinh nhai xứ người, cảnh nghèo sẽ thôi không còn đeo bám. Ai ngờ, khi rời quê ra đi, T là một chàng trai lực lưỡng, vậy mà khi về, T thân tàn ma dại. Những ngày “phiêu bạt giang hồ” bởi không làm chủ được bản thân, T đã bập vào ma tuý.
Mấy năm ôm ấp bàn đèn, không đủ sức nuôi mình nữa, T đành lê tấm thân tàn về lại chốn xưa. T kể, bố mẹ T đã rất đau khổ khi biết đứa con trai út giờ đã không còn là... của mình nữa.
Bán thân cho ả phù dung, T sống chẳng khác nào một Chí Phèo ở cái làng xác xơ ấy. Và, chính sự bất cần đời ấy mà T đã bị người ta lợi dụng. Một buổi, T được một người quen nhờ lên Tương Dương chuyển hộ bọc hàng.
Thấy có “thù lao” nhiều, chẳng cần suy nghĩ, T vội vàng ưng thuận. Thế nhưng, nào ngờ, đó là chuyến đi định mệnh, chuyến đi đã đưa T vào... cửa chết. Xách bọc hàng vừa về đến Đô Lương, T bị công an ập đến bắt giữ. Đến khi ấy T mới ngỡ ngửa ra rằng, gói hàng mà mình đang chuyển là thuốc phiện. Hai mươi cân thuốc cống, ngần ấy cũng đủ để TAND tỉnh Nghệ An kết T ở mức án cao nhất, tử hình.
"Sống trong sợ hãi"
Những ngày đầu tiên được giam giữ tại trại giam Công an tỉnh Nghệ An, với T là những ngày vô cùng khủng khiếp. Suốt mấy tháng trời T không thể nào chợp mắt. T bảo, cứ nhắm mắt vào là lại thấy cảnh mình bị đưa ra pháp trường, lại thấy những tiếng gào khóc thê lương của cha mẹ, của người vợ vừa mới bén hơi nhau ở quê nhà.
Đến giờ ăn, dù khẩu phần của tử tù còn thịnh soạn hơn nhiều bữa cơm khi còn ở quê nhà nhưng T không sao nuốt nổi. Nhiều khi cố ăn nhưng chẳng thể nhận biết mình đang ăn gì.
Những tháng ngày khủng khiếp ấy cứ thế nặng nề trôi. Như con thú mệt lả bởi bị cái chết xua đuổi, chạy cuống cuồng trong lối cụt, T nằm thườn thượt một chỗ chờ đợi mọi sự xấu, tốt đang đến với mình.
Và, đắng cay hơn, những ngày kinh hoàng ấy, thân thể giã rời của T lại nhận thêm “một đòn” chí mạng. Người vợ yêu ở quê nhà lên trại nhờ T ký vào đơn ly dị. Nghe vợ trình bày nguyện vọng của mình, giống như hôm nghe toà tuyên án, T thấy đất trời chao đảo.
Sau giây phút choáng váng ấy, tĩnh tâm, T thấy nguyện vọng của vợ mình chẳng có gì là sai. Cô ấy còn son trẻ, cô ấy không thể sống với những kỉ niệm nhàu nhĩ, khổ đau. Cô ấy phải làm lại cuộc đời. Không thể trách cô ấy được bởi ở đời chẳng có sự chung thuỷ, chờ đợi nào dành cho kẻ biết chắc là chẳng bao giờ về như mình nữa.
Nghĩ vậy, T đành gạt nước mắt để thi hành cái “phận sự” buộc phải làm của mình. Nhìn vợ lần cuối, vào trại, T thấy mình như đang đi trên mây trên khói. T bảo, lúc ấy, T cảm thấy đời mình chẳng còn gì. T không thiết sống nữa…
Cuối đường hầm vẫn còn ánh sáng
T nhưng, trong tận cùng tuyệt vọng ấy, T đã không cô đơn. Những cán bộ quản giáo luôn ở bên T, động viên để T tĩnh tâm trở lại. Lúc đầu, T không tin những tình cảm ấy là có thật bởi ý nghĩ những kẻ tội lỗi như mình thì tất thảy đều có ý nghĩ loại bỏ, xa lánh.
Thế nhưng, như mưa dầm thấm lâu, những tình cảm của “các ông” qua những việc làm cụ thể cho mình, T đã dần nhận ra rằng, đó là tình người thực sự. Nhớ nhất là ban Tú (Thượng tá Hoàng Tuấn Tú, nguyên Giám thị trại mới nghỉ hưu, T thường gọi những cán bộ trong Ban giám thị là Ban) thường ghé thăm T mỗi ngày.
|
|
Cuốn sổ hàng ngày ĐVT dùng để làm thơ. |
Lúc nào ban Tú cũng thủ thỉ động viên T như một người cha động viên chính con mình. Ban bảo, ở đời, có thể mất tất cả chứ không thể đánh mất niềm tin.
Ban kể chuyện, trước đây, ở trại cũng đã có nhiều tử tù bởi ăn năn, hối cải mà đã được nhà nước khoan hồng tha cho tội chết. Bởi thế, nếu trong những ngày giam giữ tại đây, nếu T biết hối lỗi, không đánh mất niềm tin vào cuộc sống thì biết đâu may mắn kia sẽ đến với mình. Những lời chân tình của ban Tú đã khiến T thấy lòng mình dịu lại.
Thêm nữa, cũng từ lời khuyên giải của người giám thị tận tuỵ ấy mà T đã đóng góp cho cơ quan điều tra nhiều thông tin quan trọng để mở rộng vụ án. T bảo, khi ấy, trong T niềm tin được hưởng khoan hồng đã bắt đầu nhen nhóm.
Học cách làm thơ từ... đài
Trước đây, thời còn cắp sách tới trường, T chưa bao giờ học giỏi văn. Thế nhưng, một đêm vắng lặng, từ chiếc radio nhỏ xíu mà T được một giám thị tặng, T nghe được một bài thơ rất đỗi xúc động.
Tên bài thơ lẫn tác giả đến giờ T không còn nhớ nữa. Chỉ biết rằng bài thơ nói về một người lầm lạc cầu xin sự tha thứ của người thân. Nghe xong lời thơ tha thiết ấy, T đã nước mắt vắn dài.
T nghĩ hình như nhân vật trong bài thơ ấy là mình. Từ dạo đó, T bắt đầu thích thơ và không bỏ qua bất cứ chương trình thơ nào của đài. Càng nghe càng mê đắm như phải bùa phải ngải.
Và, từ sở thích ấy, học lỏm được cách reo vần, tạo nhịp thơ từ đài, T cũng lẩm nhẩm làm thơ để giải bày tâm trạng. T kể, T thường làm thơ vào ban đêm bởi những khi ấy, T như thấy cả thế gian này chỉ duy nhất một mình mình thức. Một mình trò chuyện với chính bản thân mình.
Làm được câu nào T nhẩm cho thật nhập, sáng mai ra mượn bút, xin giấy của cán bộ quản giáo để chép lại. Càng “bước sâu” vào “con đường nghệ thuật” ấy, T càng thấy thơ như là một người tri kỉ với mình. Với thơ, T có thể tâm sự đủ nỗi buồn vui, sướng khổ.
Thơ để sám hối tri ân
Bởi sự song hành, tri kỉ ấy nên thơ đã diễn tả đầy đủ tâm trạng của T suốt những năm tháng ở chốn lao tù. Tết năm ngoái, khi vào thăm trại, biết sở thích này của T, được sự đồng ý của trại, một phóng viên đã tặng T cuốn sổ học sinh để T có “phương tiện” sáng tác.
Nhận được món quà quí đó, T đã chép lại tất cả những “đứa con tinh thần” của mình, lần lượt theo trình tự thời gian. Trình tự ấy cũng phù hợp với những chuyển biến trong suy nghĩ của T, từ tiêu cực đến vô cùng tích cực. Mở đầu “tuyển tập đầu tay” của mình, đó là những bàn thơ chỉ có duy nhất một sự bi quan, chán chường, oán thân trách phận. Có lẽ, “dòng chảy tâm trạng” ấy cũng phù hợp với tất thảy mọi người, khi đang yên lành bỗng nhiên trở thành người... sắp về bên kia thế giới.
Tâm trạng này đã được T khắc hoạ rất rõ trong Tứ cố vô thân “Khi tôi chết không người thân đưa tiễn/ Không bạn đời cũng chẳng có mẹ cha/ Cánh rừng kia là nơi tôi an nghỉ/ Không bóng người cũng chẳng tiếng tàu xe”.
Nỗi tuyệt vọng, chán chường ấy lại được “xát thêm muối” bởi một sự việc theo T là rất phũ phàng khi ấy: Vợ đâm đơn xin ly hôn. “Còn nhớ không em thời gian đó/ Buồn vui sướng khổ có hai ta/ Bây giờ em đã không còn nữa/ Chung gánh cùng tôi nỗi khổ này... (Giã từ dĩ vãng).
Lãnh án tử hình, T bảo, vợ đòi chia tay là điều tất nhiên, chẳng có gì là đáng trách. Thế nhưng, trong thâm tâm, nỗi đau ấy gặm nhấm thế từng giây từng phút. Và, chính bởi sự “hành hạ” ấy mà hầu như trong tất cả những bài thơ than thân trách phận T làm trong thời gian đầu này đều có hình bóng “em quay gót”. “Em đi không nói một lời/ Để tôi chỉ biết gọi thầm em ơi/ Đêm nào lệ cũng tuôn rơi/ Vì tôi luôn nghĩ lại thời bên em." (Đêm cô đơn).
Sau "giai đoạn" oán thân, trách phận, T đã tĩnh tâm dần trở lại. Khi ấy, T thấy ăn năn với những tội lỗi của mình. Và, lúc này, hình bóng những người thân yêu trong gia đình lại hiện lên. Vợ thì vừa giận vừa thương, cha mẹ thì càng nghĩ càng thấy ruột gan quặn thắt. T thấy thương cha da diết. Chính nỗi niềm ấy đã khiến T nghẹn ngào: “Những tháng ngày con sống giữa buồng giam/ Nỗi nhớ cha chẳng bao giờ nguôi cạn/ Nhớ thương cha con càng thêm ân hận/ Những tội tình con đã trót gây ra/ Biết bao đêm giữa tường đá lạnh căm/ Con thổn thức nhớ thương ngày ấy/ Ôi cái ngày sao yên bình đến vậy/ Con êm đềm trong bóng cha yêu (Thương cha).
Cũng độ thời gian này, T đã nhận ra mình không cô đơn. Luôn ở bên T là những cán bộ quản giáo, họ luôn động viên T vượt qua khó khăn, vững tin vào cuộc sống. Điều đó đã được T “mô tả” rất rõ qua bài Động viên: “Chiều thu Ban Tú vào thăm T/ Ban bảo mai đây chắc được tha/ Đừng có bi quan mà làm bậy/ Kẻo mà ân hận, nhớ con à!”. Từ những sự quan tâm ấy. “Tôi trở về thăm xứ Nghệ quê hương/ Thăm mảnh đất những anh hùng Xô viết/ Xa quê hương bao nhiêu năm biền biệt/ Nay tôi về trên đất mẹ yêu thương (Thăm xứ Nghệ).
Tình yêu cuộc sống, thấy cuộc đời có vô vàn những điều nên thơ, đáng thương, đáng mến này còn được T khắc hoạ qua rất nhiều bài thơ tiếp theo như Thăm thành phố đỏ, Em gái sông Lam, Xuân sẽ về, Xuân về...
T biết ơn những người đã cảm hoá mình, đã gieo vào mảnh đất cộc cằn là tâm hồn mình một mầm non hi vọng, tin yêu cuộc sống. Những người “trồng cây trên cát” ấy không ai khác là những cán bộ quản giáo trại giam, những người luôn sẻ chia với T mọi buồn vui, sướng khổ.
Bởi sự hàm ơn trời bể ấy cũng được T thể hiện rất nhiều trong “tuyển tập” của mình. Đó là những bài như Người thắp sáng niềm tin, Xuân sẽ về, Tiếng hót chim chiền chiện, Gửi chị người vợ Công an, Nguyện mãi ơn Ban... Đó là những vần thơ cảm động, đó là những tình cảm chân thành mà tử tù ĐVT dành cho những người đã “đánh thức” mình.
T bảo, T làm thơ là để sám hối, để tri ân với người, với đời. Thơ ấy đã giúp T tĩnh tâm hơn trong những ngày còn lại của mình.
Đào Thanh Tuy