(VTC News) - Đêm tân hôn của họ diễn ra tại một cái chuồng bò bên sông Cấm, dù hôi thối, song họ đã tìm thấy hạnh phúc đích thực.
 |
| Họ đã tìm thấy hạnh phúc từ cái chuồng bò ngoài bãi sông. |
Không được gia đình hai bên ủng hộ, nhưng Thư và Tuất quyết tâm đến với nhau. Cơ sở sản xuất chổi đót, tăm tre, nơi Thư sống và làm việc đã đứng ra tổ chức lễ cưới cho hai người. Khách mời trong lễ cưới toàn là người mù và người mắt kém. Chỉ có vài mâm cơm đạm bạc, thế là nên vợ thành chồng.
Cưới xong, mọi người hỏi: “Thế hai đứa ở đâu? Đã có chỗ ở chưa? Chỗ tập thể đông đúc thế này vợ chồng ở sao tiện?”. Thư bảo: “Mọi người yên tâm, vợ chồng tôi thuê được một căn phòng nhỏ rồi”. Nói vậy cho đỡ tủi, chứ thực ra, vợ chồng Thư làm gì có tiền mà thuê nhà.
Tổ chức cưới xong, hai vợ chồng dắt díu nhau rời cơ sở sản xuất tăm tre, chổi đót. Hai đứa dắt nhau dò dẫm đi trên đê sông Cấm. Nghĩ tủi thân cho phận mình, nên vừa đi vừa khóc nức nở. Đúng lúc đó, một người đàn ông tiến đến hỏi: “Hai đứa chúng mày làm sao mà đêm hôm kéo nhau ra đây khóc lóc. Chúng mày không sợ bọn nghiện giết à?”. Sau khi biết hoàn cảnh hai kẻ mù lòa, người đàn ông tên Vinh bảo: “Hai đứa chúng mày yên tâm, tao sẽ lo chỗ ở miễn phí cho”.
 |
| Bé Trần Thu Trang cũng mù bẩm sinh như cha mẹ. |
Tối hôm đó, ông Vinh dẫn vợ chồng Thư đến trạm thoát nước bên sông Cấm và bảo: “Đây là cái trạm thoát nước, lẽ ra tao ở trạm trông nom cái cống thoát nước này, nhưng nhà tao ở gần đây, nên tao biến cái trạm này thành chỗ nhốt bò. Giờ tao sẽ xua bò ra, nhường cái trạm thoát nước này cho hai đứa ở”.
Ông Vinh là bảo vệ trông nom cống thoát nước. Do đất bãi rộng, nên ông tranh thủ trồng chuối và nuôi bò. Ngày ông thả bò xuống bãi, đêm ông nhốt chúng vào trạm. Thương vợ chồng mù mới cưới không có nhà ở, ông Vinh đã xua đàn bò ra vườn chuối, nhường cái trạm rộng 10m2 này cho đôi uyên ương. Ông múc nước xối phân bò ra ngoài, rồi ôm rơm trải xuống nền nhà thành đệm. Hôm sau, ông dựng tạm một cái lán nhỏ ngoài bãi sông để nhốt bò.
Thế là, đêm tân hôn của cặp vợ chồng mù diễn ra ở chuồng bò…
Nhớ lại những ngày ấy, Thư kể: “Người mù thì thường thính nhạy cái khác anh ạ. Dù chú Vinh và bọn em đã lau dọn rất kỹ, song suốt cả tháng trời, vợ chồng em vẫn không chợp mắt được vì mùi phân bò cứ xộc vào mũi. Sáng hôm sau, hai đứa ra khỏi nhà, vẫn ngửi thấy mùi phân bò đượm ở quần áo. Nhưng ở mãi rồi quen, mùi phân bò cũng hết dần”.
Hạnh phúc đã nảy mầm khi Tuất mang bầu. Thế nhưng, buồn thay, cô con gái đầu lòng Trần Thu Trang lại cũng giống mẹ và bà ngoại, bị mù bẩm sinh. Những ngày vượt cạn là những ngày gian khổ, khó khăn nhất. Cũng may mà mẹ đẻ Tuất bỏ qua giận hờn, xuống Hải Phòng trông nom giúp, để hai vợ chồng còn đi bán hàng rong kiếm sống, nuôi con. Trong cái trạm thoát nước nhỏ xíu ven sông ấy, có tới 3 thế hệ với 4 người mù sinh sống.
Hạnh phúc đã vỡ òa trong căn phòng vốn là chuồng bò ven sông khi Tuất sinh hạ bé gái nữa. Cháu bé có cái tên rất đẹp Trần Kiều Anh hoàn toàn bình thường, không bị mù bẩm sinh như chị nó. Thư bảo với tôi: “Hai đứa em đã bàn tính, nếu đứa thứ hai mà mù nốt, thì sẽ gửi chúng cho Nhà nước nuôi, rồi nhảy xuống sông Cấm cho xong. Cũng may mà cháu không bị mù, nên vợ chồng em còn hy vọng để sống”.
Năm 2005, biển cả cướp mất người con trai, vợ thì đã mất từ chục năm trước, một mình cô quạnh, thương con, nên mới đây, cha Thư đành xuống nước, gọi vợ chồng Thư về. Người chủ tàu trợ cấp cho gia đình 30 triệu đồng để làm tang ma cho em trai Thư. Số tiền ấy, cha Thư dùng để dựng một ngôi nhà cấp bốn nho nhỏ để vợ chồng Thư ở.
 |
| Cơ sở tẩm quất của anh Thư trong ngõ vắng nên chả mấy khi có khách. |
 |
| Hàng ngày, chị Tuất phải đẩy xe bán hàng rong kiếm sống. |
Nhà có hai sào ruộng, cha Thư dành cả cho hai vợ chồng. Vợ bị mù bẩm sinh, Thư mù từ khi lên ba tuổi, nên không thể hình dung nổi cây lúa thế nào, càng không biết làm ruộng. Mấy ngày liền các anh chị họ dẫn hai vợ chồng ra ruộng hướng dẫn cách nhổ mạ, cấy lúa, tuy nhiên, không nhìn thấy gì, nên cấy chẳng ra hàng lối, tý tý lại ngã chỏng chơ giữa ruộng. Làm riết rồi cũng quen, giờ hai vợ chồng mù cày cấy thoăn thoắt.
Để “làm giàu”, Thư mạnh dạn vay quỹ của Hội Người mù Hải phòng được một triệu, vay thêm họ hàng, làng xóm được tổng cộng 4 triệu nữa, rồi mượn ngôi nhà bỏ không của một chị hàng xóm để mở cơ sở tẩm quất người mù.
Vợ chồng đánh tẩm quất đều giỏi, nhưng vì địa điểm đặt ở ngõ sâu hun hút, giữa vùng quê nghèo, nên chả mấy khi có khách. Thi thoảng có mấy ông chủ lò đúc ở xã cạnh làm việc mệt quá thì phóng xe máy tìm đến tẩm quất. Người dân trong xóm toàn thợ xây và phu hồ, làm việc quần quật cả ngày mới kiếm được 50 đến 70 ngàn, nên chả ai dám tẩm quất, dù mỗi ca tẩm quất chỉ có giá 5 đến 10 ngàn đồng.
Ngoài lúc có khách gọi tẩm quất, từ sáng đến nửa đêm, Thư miệt mài làm đủ mọi việc, từ chẻ tăm, đan chổi, đan võng, bện tấm thảm lau chân…
Ngày nắng cũng như ngày mưa, nóng hầm hập cũng như rét căm căm, sáng nào Tuất cũng mò mẫm đẩy chiếc xe tự chế chứa đầy hàng hóa rời nhà qua thị trấn Núi Đèo, đi dọc quốc lộ 10 về TP. Hải Phòng. Đi một vòng quanh TP. Hải Phòng, Tuất trở về nhà đúng vào lúc nhập nhoạng tối. Thư bảo: “Đi bán hàng rong cũng như người đi câu, ngày nào khấm khá kiếm được 40-50 ngàn đồng, bình thường thì chỉ được 20-30 ngàn, cũng có ngày về không, chả được đồng nào”.
Số tiền vay tổng cộng 5 triệu đồng từ mấy năm trước để sắm thiết bị mở phòng tẩm quất với quyết tâm “làm giàu”, đến giờ hai vợ chồng mù vẫn chưa trả nợ được. Nó cứ như cái bóng, đè nặng lên tâm trí hai vợ chồng.
Với người khiếm thị, hành trình đi tìm hạnh phúc thật vô cùng khó nhọc!
Phạm Ngọc Dương