Báo điện tử VTC News
Thứ Sáu, ngày 22 tháng 8 năm 2014

Chiến tranh thế giới thứ 2 đã có thể kết thúc từ năm 1943

Ria Novoxti đăng cuộc trò chuyện của tiến sĩ khoa học lịch sử Valentin Falin với nhà bình luận quân sự Victor Litopkin. Trong cuộc trò chuyện này đã hé mở những trang mà ít người biết đến về Chiến tranh thế giới thứ 2, nó kể về các bộ máy và động cơ bí mật của những quyết định cấp cao mà đôi khi chúng có ảnh hưởng quyết định đến diễn biến và kết cục của các hành động tác chiến.

 

Trong sử học hiện đại của Chiến tranh thế giới thứ 2 đang tồn tại những đánh giá khác nhau về giai đoạn kết thúc của nó. Một số chuyên gia khẳng định rằng chiến tranh có thể được kết thúc sớm hơn nhiều. Những người khác cho rằng nó có thể kéo dài thêm ít nhất là một năm nữa. Ai đến gần sự thật hơn? Ông ủng hộ quan điểm nào, thưa ông?

 

Không chỉ sử liệu học ngày nay mới tranh cãi về vấn đề này. Ngay trong quá trình chiến tranh đã có những cuộc thảo luận về thời hạn tiến hành chiến tranh ở châu Âu và về thời gian kết thúc nó. Chúng được tiến hành liên tục từ năm 1942.

 

Nếu nói chính xác thì các nhà chính trị và quân sự đã nghiên cứu vấn đề này từ năm 1941, khi phần lớn áp đảo các đại diện của các quốc gia, gồm cả Rudovent và Socsin, đã cho rằng Liên Xô chỉ trụ vững được tối đa là 4- 6 tuần. Chỉ có Benes tin và khẳng định rằng Liên Xô sẽ trụ vững trước cuộc xâm lăng của Đức quốc xã và cuối cùng sẽ đập tan nước Đức.

 

Eduard Benes, nếu như tôi không lầm, là Tổng thống của Tiệp khắc sống lưu vong. Sau thoả thuận Muy nich năm 1938 và đất nước bị chiếm đóng ông ta đã ở Anh?

 

Đúng. Sau đó, khi những đánh giá này không trở thành hiện thực, lúc quân Đức chịu thất bại chiến lược đầu tiên trong chiến tranh thế giới thứ hai ở ngoại ô Matxcova, các quan điểm thay đổi đột ngột.

 

Ở phương Tây người ta lo ngại rằng Liên Xô sẽ không quá mạnh khi ra khỏi cuộc chiến tranh này. Còn nếu nó quả thật quá mạnh, thì sẽ bắt đầu xác định bộ mặt của châu Âu trong tương lai. Berle, Thứ trưởng Bộ ngoại giao Mỹ, người phối hợp các ngành tình báo Mỹ nói thế.

 

Giới thân cận của Socsin, gồm cả những người quan trọng, trước chiến tranh và trong diễn biến chiến tranh, chuyên nghiên cứu học thuyết hành động của lực lượng vũ trang Anh và toàn bộ nền chính trị của Anh, cũng cho như vậy.

 

Điều này giải thích việc Socsin phản đối mở mặt trận thứ hai trong năm 1942. Dù Tiverbruc, Krippe trong giới lãnh đạo và đặc biệt, Aizenhao cùng những người nghiên cứu các kế hoạch quân sự khác của Mỹ, cho rằng có những tiền đề kỹ thuật và các tiền đề khác cho việc đánh bại người Đức ngay trong năm 1942.

 

Sử dụng yếu tố quên lãng phần lực lượng vũ trang áp đảo của quân Đức ở phía Đông, vùng duyên hải dài 2.000 km của Pháp, Hà Lan, Bỉ, Na Uy và của chính nước Đức được mở ra cho quân đội các nước Đồng minh tràn vào. Dọc miền duyên hải Đại Tây Dương của Đức quốc xã lúc bấy giờ không hề có công trình phòng thủ lâu dài nào.

 

Hơn nữa các nhà quân sự Mỹ nài nỉ và thuyết phục Rudovent, rằng mặt trận thứ hai là cần thiết, mặt trận thứ hai là có thể, rằng việc mở mặt trận thứ hai sẽ làm cho chiến tranh ở châu Âu, về nguyên tắc, ngắn hơn và sẽ buộc quân Đức đầu hàng. Nếu không phải vào năm 1942, chậm nhất là năm 1943.

 

Nhưng những tính toán này không làm vừa ý người Anh và các nhà hoạt động theo lề lối bảo thủ của Mỹ.

 

Ông muốn ám chỉ ai vậy?

 

Toàn bộ Viện quốc vụ Mỹ chẳng hạn. Viện này, đứng đầu là Hello, đã có thái độ hết sức thù địch với Liên Xô. Điều đó giải thích tại sao Rudovent không đem theo Hello đến hội nghị Teheran, còn biên bản các cuộc gặp của “bộ ba lớn” thì mãi sáu tháng sau hội nghị này ông ta mới được tiếp xúc. Trong khi đó sau 3 hay 4 tuần, những biên bản này đã được ngành tình báo chính trị của đế chế thứ ba báo cáo lên Hitler. Cuộc sống quả đầy nghịch lý!

 

Sau trận đánh Curxco năm 1943 kết thúc bằng thất bại nặng nề của quân đội Đức, ngày 20 tháng 8 các tham mưu trưởng của Mỹ và Anh cùng Socsin và Rudovent đã họp ở Kê beech. Trong chương trình nghị sự có các vấn đề: việc Hoa Kỳ và Anh có thể rút khỏi liên minh chống Hitler và việc gia nhập vào liên minh với các tướng lĩnh Đức quốc xã để tiến hành cuộc chiến tranh chung chống Liên Xô.

 

Tại sao vậy?

 

Vì theo tư tưởng của Socsin và của những người cùng chia sẻ tư tưởng này với ông ta ở Oa sinh ton, cần phải “chặn đứng những kẻ dã man Nga này” ở phía Đông, càng xa càng tốt. Nếu như không đánh tan được Liên Xô, thì phải làm cho nó suy yếu. Trước hết là mượn tay người Đức. Nhiệm vụ đã được đặt ra như vậy.

 

Đó là chủ tâm của Socsin già nua cổ hủ. Ông ta đã phát triển tư tưởng này từ các cuộc trò chuyện với tướng Cutepop từ năm 1919. Ông ta đã nói: người Anh, người Pháp và người Mỹ đang chịu thất bại và không thể đè bẹp được nước Nga Xô viết. Cần đặt nhiệm vụ này lên vai người Nhật và người Đức. Năm 1930 ông ta cũng đề nghị Bismark- bí thư thứ nhất đại sứ quán Đức ở London - tương tự. Đối với Socsin, đó không hẳn chỉ là cuộc chiến đấu với những người bôn sê vích, mà còn là sự tiếp tục cuộc chiến tranh Crưm năm 1853- 1856, khi người Nga cố ngăn chặn cuộc bành trướng của người Anh.

 

  ngoại Capcadơ, Trung á, ở Cận đông giàu có bởi dầu mỏ…

 

Tất nhiên! Khi chúng ta nói về các biện pháp tiến hành chiến tranh khác nhau với Đức quốc xã không được quên thái độ đối với triết lý đồng minh, với các trách nhiệm mà Anh và Mỹ phải thực hiện đối với Matxcova.

 

Tôi còn nhớ đến chiến thuật làm hỏng cuộc đàm phán của Liên Xô, Anh và Pháp hồi tháng 8 năm 1939, khi còn có thể làm được cái gì đó để kiềm chế cuộc xâm lược của Đức quốc xã. Họ đã không để cho ban lãnh đạo Liên Xô một sự lựa chọn nào khác là ký kết với Đức hiệp ước không tấn công. Họ đã đặt chúng ta dưới cú đòn của cỗ máy quân sự Đức đã được chuẩn bị cho cuộc xâm lược.

 

Tôi xin trích dẫn chỉ thị đã được lập tại văn phòng của Tremberlen: “Nếu London không rút khỏi hiệp ước với Liên Xô, chữ ký của Anh dưới văn bản không có nghĩa là, trong trường hợp người Đức tấn công Liên Xô, người Anh cần phải giúp đỡ nạn nhân của cuộc xâm lược và tuyên chiến với Đức. Chúng ta cần để dành khả năng tuyên bố rằng Anh và Liên Xô lý giải các yếu tố theo cách khác nhau”.

 

Một ví dụ lịch sử nổi tiếng, khi tháng 9 năm 1939 Đức tấn công Ba Lan- đồng minh của Anh  đã tuyên chiến với Berlin, nhưng không hề có một bước quan trọng nào để giúp Ba Lan trên thực tế!

 

Nhưng trong trường hợp của chúng ta không nói về việc tuyên chiến hình thức. Tori xuất phát từ việc “con lăn” của Đức sẽ đến tận Uran và sẽ san bằng mọi thứ trên đường đi.

 

Chẳng có ai than phiền về sự quỉ quyệt của Albion. Mối liên hệ thời gian, liên hệ sự kiện này tồn tại trong thời gian chiến tranh. Nó nuôi dưỡng suy nghĩ, và cái suy nghĩ này không quá lạc quan đối với chúng ta.

 

Chúng ta quay lại với năm 1944- 1945. Chúng ta có thể kết thúc chiến tranh sớm hơn tháng 5 được hay không?

 

Chúng ta đặt vấn đề thế này: tại sao cuộc đổ bộ của Đồng minh được lên kế hoạch vào năm 1944? Tại sao không ai chú trọng đến thời điểm này? Đồng thời ngày được chọn hoàn toàn không phải là tình cờ.

 

Phương Tây người ta tính toán rằng chúng ta đã mất một số lượng lớn sĩ quan và chiến sĩ, một lượng lớn vũ khí kỹ thuật ở Xtalingrad. Những tổn thất lớn ở vòng cung Curxco. Chúng ta đã mất nhiều xe tăng hơn người Đức. Năm 1944 đất nước Liên Xô đã phải động viên những thanh niên tuổi 17.

 

Khi nhận định về tương lai, tình báo Mỹ và Anh đã cho rằng đến mùa xuân năm 1944 tiềm năng tấn công của Liên Xô đã cạn kiệt. Dự trữ nhân lực sẽ hoàn toàn kiệt quệ và Liên Xô không thể giáng cho quân Đức những đòn chí mạng, có thể sánh với các trận đánh ở Matxcova, Xtalingrad hay Curxcơ.

 

Như vậy, đến thời gian quân Đồng minh đổ bộ, sau khi sa lầy vào mâu thuẫn với Đức quốc xã chúng ta sẽ phải nhượng bộ sáng kiến chiến lược của Mỹ và Anh.Đến thời điểm quân Đồng minh đổ bộ lên lục địa, một âm mưu chống Hitler đã được dàn xếp. Các tướng lĩnh được đưa vào chính quyền ở đế chế thứ ba cần phải nới lỏng mặt trận phía Tây và mở cho người Mỹ và người Anh khoảng không rộng rãi để chiếm đóng nước Đức và “giải phóng” Ba lan, Tiệp khắc, Hung ga ri, Ru ma ni, Bun ga ri, Nam tư và Áo…Hồng quân cần phải dừng lại ở các biên giới của năm 1939.

 

Tôi còn nhớ, người Mỹ và người Anh thậm chí đã đổ bộ vào Hung ga ri, ở vùng Balaton nhằm chiếm Budapest, nhưng đã bị người Đức bắn trả.

 

Đó không phải là cuộc đổ bộ, mà là một nhóm tiếp xúc để khôi phục lại mối liên lạc với các lực lượng chống phát xít của Hung ga ri. Nhưng họ không lọt vào được.

Sau cuộc mưu sát, Hitler vẫn còn sống, Rommel bị thương nặng và bước ra khỏi cuộc chơi, dù ở phương Tây người ta vẫn hi vọng vào ông ta. Những tướng lĩnh còn lại thì hèn nhát.

 

Tôi lấy một ví dụ cụ thể. Quân đội Mỹ tiến đến gần Paris. ở đó bắt đầu cuộc nổi dậy. Người Mỹ dừng lại cách thủ đô nước Pháp 30 km và chờ cho người Đức giết hết những người nổi dậy, bởi đó là những người cộng sản. Khi người Mỹ chiếm được Paris, những người nổi dậy đã nắm được tình hình ở đó. Bây giờ chúng ta quay lại với vấn đề chính.

 

Mùa thu năm 1944 ở Đức đã diễn ra một số cuộc hội nghị do Hitler chỉ đạo, sau đó theo uỷquyền của ông ta là Iodl và Kây ten. Họ đã suy tính thế này: nếu cho người Mỹ một đòn đau thì người Anh và người Mỹ sẽ rất hứng khởi với những cuộc đàm phán, được tiến hành bí mật đối với người Nga, trong những năm 1942- 1943.

Chiến dịch Ardenn được trù tính ở Berlin không phải là chiến dịch dành thắng lợi trong cuộc chiến, mà là chiến dịch nhằm phá vỡ những quan hệ đồng minh giữa phương Tây và Liên xô.

 

Mỹ cần biết rõ người Đức còn mạnh như thế nào, nó được quan tâm chừng nào đối với các cường quốc phương Tây trong cuộc chiến của họ chống Liên Xô. Và chính các đồng minh có đủ sức mạnh, có đủ ý chí để chặn “quân đỏ” trên các cửa ngõ dẫn vào lãnh thổ nước Đức hay không?

 

Hitler nhấn mạnh rằng: không ai muốn nói chuyện với một đất nước đang ở trong tình trạng khó khăn, họ sẽ nói chuyện với chúng ta chỉ khi nào nước Đức tỏ rõ nó chính là sức mạnh. Người Đức chuẩn bị lọt vào Rotterdam và cắt đứt khả năng sử dụng các cảng ở Hà Lan của người Mỹ. Tình hình này sẽ giải quyết hoàn toàn chiến dịch của phương Tây.

 

Việc bắt đầu chiến dịch Ardenn đã vài lần bị gác lại. Nước Đức không còn đủ sức. Và chiến dịch chỉ được bắt đầu vào thời điểm, khi mà mùa đông năm 1944 Hồng quân đã có những trận đánh gian khổ nhất ở Hung ga ri, ở khu vực Balaton và ở gần Budapest. Trên ván bài là những nguồn dầu mỏ cuối cùng- ở áo và ở chính Hung ga ri- do người Đức kiểm soát.

 

Đó là một trong những nguyên nhân, tại sao Hitler quyết định bảo vệ Hung ga ri. Và tại sao, vào lúc cao trào của chiến dịch Ardenn và trước khi bắt đầu chiến dịch Elzacc, nó lại bắt đầu kéo giãn lực lượng từ hướng Tây và ném quân đội vào mặt trận Xô- Hung. Lực lượng chính của chiến dịch Ardenn- tập đoàn quân xe tăng số 6 của SS- đã bị đưa ra khỏi Ardenn và ném vào Hung ga ri…

 

Gần Khaimasker?

 

Thực ra việc điều động quân được bắt đầu từ trước khi Rudovent và Socsin kêu gọi Salin giúp đỡ.

Còn Hitler ước tính rằng, nếu đồng minh của chúng ta thường đặt Liên xô dưới đòn đánh và ngang nhiên chờ đợi xem Matxcova có chịu đựng được không, Hồng quân có bị bẻ gãy hay không, thì chúng ta cũng có thể hành động như thế.

 

Giống như năm 1941 họ chờ đợi khi nào thủ đô của Liên Xô sẽ sụp đổ, và năm 1942 không chỉ Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật Bản, mà cả người Mỹ cũng chờ xem chúng ta có rút khỏi Xtalingrad hay không , để quyết định xem xét lại chính sách của mình.

 

Các đồng minh đã không chia sẻ với chúng ta những thông tin tình báo của mình, chẳng hạn về các kế hoạch tấn công của Đức qua sông Đông vào Vonga và xa hơn nữa.

 

Nếu tôi không lầm, chính “dàn đồng ca Đỏ” huyền thoại đã chuyển cho chúng ta thông tin này?

 

Người Mỹ không trao cho chúng ta một thông tin nào, dù đã có nó hàng ngày , hàng giờ. Trong số đó có cả thông tin về việc chuẩn bị chiến dịch “Sitaden” ở vòng cung Curxcơ.

 

Tất nhiên, chúng ta có cơ sở quan trọng để quan sát đồng minh của chúng ta có khả năng chiến đấu như thế nào.

 

Không phải “Overlord” là chủ yếu mà là “Ranken”: dự định thiết lập sự kiểm soát của Anh và Mỹ đối với toàn bộ nước Đức, với tất cả các quốc gia Đông Âu để không cho chúng ta tới được đó.

 

Aizenhao, khi đó được bổ nhiệm là tư lệnh các lực lượng của mặt trận thứ hai, đã nhận được chỉ thị: chuẩn bị “Orvelord”, nhưng luôn phải chú ý “Ranken”. Nếu các điều kiện thuận lợi cho việc tiến hành kế hoạch “Ranken” được hình thành, sẽ vứt bỏ “Orverlord” và hướng mọi sức lực vào việc thực hiện kế hoạch “Ranken”.

 

Tức là chiến tranh quả thật đã có thể chấm dứt sớm hơn tháng 5 năm 1945 nhiều?

 

Tôi có thể trả lời một cách chân thành: đúng, đã có thể. Đất nước chúng ta không có lỗi trong việc nó chưa được kết thúc từ năm 1943. Đó không phải là lỗi của chúng ta.

 

Nếu như đồng minh của chúng ta trung thực hoàn thành trách nhiệm đồng minh của mình, nếu như họ ủng hộ những cam kết mà họ đã hứa trước Liên Xô năm 1941, 1942 và nửa đầu năm 1943, thì chiến tranh đã không kéo dài thêm ít nhất từ 1,5 đến hai năm nữa.

 

Và cái chính là, nếu không trì hoãn việc mở mặt trận thứ hai, tổn thất về người của Liên Xô và đồng minh , đặc biệt trên lãnh thổ châu Âu bị chiếm đóng, sẽ giảm đi từ 10 đến 12 triệu người. Thậm chí trại Osvensim cũng đã không hoạt động: nó hoạt động hết công suất trong năm 1944…

 

Xin cảm ơn ông!

 

Đoàn Phương  ( theo Ria Novoxti )


Video đang được xem nhiều
Tư liệu > Chiến tranh thế giới thứ 2 đã có thể kết thúc từ năm 1943

click

Các bài đã đăng