Tuy ra đời sau các loại máy bay chiến đấu, nhưng nhờ áp dụng những công nghệ khoa học tiên tiến mà những tổ hợp tên lửa phòng không (PK) của quân đội Nga đã phát triển không ngừng và thực sự đã trở thành những đối thủ đáng gờm đối với những máy bay chiến đấu hiện đại của quân đội Mỹ. 

 

VTC News xin giới thiệu loại bài về vũ khí tên lửa PK Nga qua các thời kỳ lịch sử.

 

Kỳ 1: Tên lửa phòng không của Nga thế hệ thứ nhất

 

Trong các hệ thống tên lửa chiến đấu PK của nhiều quốc gia có nền tảng khoa học kỹ thuật tiên tiến, các hệ thống tên lửa PK do Liên Xô cũ nay là Liên bang Nga sản xuất đều hội tụ những tính năng chiến đấu vượt trội và chính vì vậy mà rất nhiều quốc gia đã tin dùng, thậm chí ngay cả những quốc gia từng chỉ trang bị vũ khí của Mỹ sản xuất cũng đã chuyển hướng sang mua và sử dụng vũ khí tên lửa của Nga để trang bị cho quân đội của mình.

 

Việc Mỹ  thử nghiệm thành công bom nguyên tử được coi là động lực thúc đẩy Liên Xô phát triển các loại vũ khí phòng không.


Sau Đại chiến thế giới lần thứ II, Hoa Kỳ đã nghiên cứu và chế tạo thành công được loại vũ khí có sức công phá và huỷ diệt ghê gớm nhất đó là bom nguyên tử (A-bomb).

 

Hơn thế nữa, Mỹ cũng là nước sở hữu lực lượng không quân ở các cấp chiến thuật và chiến lược có khả năng mang bom nguyên tử từng đe doạ đến nền an ninh của Liên Xô thời kỳ đó.

 

S-25 tổ hợp tên lửa đầu tiên Nga do nghiên cứu và chế tạo .


Để đối phó với những mối đe doạ tiềm tàng từ phía Mỹ, đặc biệt là từ các phi đội máy bay tiêm kích và ném bom của Lầu Năm Góc, đòi hỏi quân đội Liên Xô phải được trang bị lực lượng phòng không  mạnh với hoả lực lớn sẵn sàng đánh bại được các đợt tiến công của đối phương.

 

Từ những năm 1950, các kỹ sư nghiên cứu chế tạo vũ khí của quân đội Liên Xô đã sản xuất được tổ hợp tên lửa phòng không đầu tiên mang tên S-25 (C-25 theo tiếng Nga) và đạn tên lửa 205.

 

Tên lửa SA-75 Dvina được  quân đội bố trí để bảo vệ các mục tiêu kinh tế, chính trị quan trọng trên lãnh thổ Nga.


Hệ thống tên lửa S-25 được coi đại diện của thế hệ tên lửa đạn đạo phòng không thế hệ đầu tiên của quân đội Liên Xô.

 

Năm 1951, S-25 được đưa tới bắn thử tại trận địa bắn thử đạn quốc gia nhằm đánh giá chính xác những tính năng kỹ chiến thuật và khẳ năng tiêu diệt mục tiêu.

 

Sau thời gian bắn thử nghiệm không lâu, hệ thống tên lửa S-25 đã được trang bị cho các đơn vị phòng không để bảo vệ thủ đô Moscow.

 

Năm 1953, các chuyên gia kỹ thuật quân sự Liên Xô đã đúc rút từ những ưu, nhược điểm của tổ hợp phòng không S-25 để chế tạo ra một tổ hợp phòng không mới có tên SA-75 Dvina (Mỹ và NATO đặt tên SA-2) với những khả năng phòng thủ mới nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học tiên tiến hơn.

 

Pháo đài bay B-52 của Mỹ đã bị tên lửa SA-75 của các đơn vị phòng không Việt Nam bắn hạ.

Là tổ hợp tên lửa phòng không tầm trung có khẳ năng cơ động và xác suất tiêu diệt mục tiêu cao hơn só với thế hệ tên lửa S-25 trước đó.

 

Tổ hợp này bao gồm các thành phần tác chiến là ra đa trinh sát và chỉ thị mục tiêu, đài điều khiển hoả lực SNR-75, bệ phóng tên lửa, tên lửa V-750 ba biến thể có khả năng “đo ván" mục tiêu ở cự ly cách xa từ 5 đến 34 km.

 

Tháng 5/1960 một máy bay do thám U-2 của Mỹ bị bắn rơi khi đang bay trinh sát xâm phạm không phận Nga.

Chính thức từ năm 1957, Liên Xô đã đưa tổ hợp phòng không SA-75 vào trang bị cho các đơn vị phòng không để bảo vệ các mục tiêu quan trong trên khắp lãnh thổ rộng lớn của liên bang.

 

Lần đầu tiên SA-75 “lập công” là sự kiện máy bay do thám U-2 của Mỹ bị bắn rơi khi đang bay trinh sát xâm phạm bầu trời vùng Svelov vào ngày 1/5/1960.

 

Đáng kể nhất phải nói đến những chiến tích mà tên lửa SA-75 đã được các đơn vị phòng không của Việt Nam sử dụng để bắn rơi hàng trăm máy bay Mỹ và hàng chục máy bay ném bom chiến lược B-52 trong cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc nước ta giai đoạn (1965-1972).

 

Bệ phóng cố định của hệ thống tên lửa S-125.


Sau thành công của việc chế tạo tổ hợp tên lửa SA-75, các kỹ sư quân sự Liên Xô đã cải tiến loại tên lửa này thành tổ hợp tên lửa S-75 Vonga (NATO đặt tên SA-6).

 

Tổ hợp được nâng cấp này có khả năng tiêu diệt được các máy bay chiến đấu của đối phương các vị trí bắn khỏang 50 km, độ cao từ 5 đến hơn 30 Km.

 

Năm 1960, Liên Xô tiếp tục chế tạo và sản xuất thành công hệ thống tên lửa S-125 Pechora (NATO đặt tên SA-3) cũng với những đặc điểm của hệ thống phòng thủ đường không tầm thấp và tầm trung có khả năng tiêu điệt máy bay địch ở độ cao từ 5 đến 18 km.

 

Tên lửa S-125 được bắn đi từ bệ phóng cố định tại một trận địa tên lửa của quân đội Nga.


Thành phần của hệ thống tên lửa này cũng gồm các bộ phận cấu thành cơ bản như tổ hợp SA-75, đáng chú ý hơn cả là mỗi bệ bắn được bố trí trên trận địa có thể có từ 2 đến 4 quả tên lửa có cánh.

 

S-125 sau này được nhiều quốc gia nâng cấp được bố trí trên nhiều loại phương tiện chiến đấu để phù hợp với tình hình chiến đấu và đặc điểm chiến thuật riêng của từng nước khác nhau.

 

Đây cũng chính là hệ thống tên lửa cuối cùng thuộc các loại tên lửa thuộc thế hệ thứ nhất mà Liên Xô đã từng nghiên cứu, chế tạo và trang bị cho lực lượng quân đội của mình.

 

Bình Nguyên (Lược dịch từ VKP History)

 

Kỳ 2: S-200 - Đại diện của tên lửa phòng không thế hệ thứ 2
Video đang được xem nhiều