(VTC News) - "Theo tôi nếu thấy những dự án nào có hiệu quả rồi mà các DN lại gặp khó khăn thì nhà nước cũng phải có can thiệp hỗ trợ để những dự án đó được thực hiện", Chủ nhiệm Ủy ban kinh tế Hà Văn Hiền vừa có cuộc trao đổi như vậy với báo giới Bên lề Quốc hội.

CHủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Hà Văn Hiền (Ảnh: Thùy Dương)
- Thưa ông, những dự án bị thiếu vốn, thậm chí những đơn vị có chiến lược đầu tư nhưng do tác động của suy thoái kinh tế nên công trình chậm, vì vậy cần phải làm thế nào để tránh cho những dự án đó bị kéo dài ra dẫn đến tình trạng kém hiệu quả?
Theo báo cáo giám sát, có những đơn vị có tỷ lệ giữa nợ vay so với vốn chủ sở hữu tăng trên 10 lần, có đơn vị 20 lần - đối với những đơn vị này mình phải xem xét. Cần phải lưu ý là phần lớn những doanh nghiệp (DN) có số nợ lớn như vậy chủ yếu vay đầu tư vào lĩnh vực trung hạn và dài hạn như vậy xét về phương diện nào đó thì những DN mạnh dạn vay vốn để đầu tư chúng ta cũng phải có khuyến khích.
Quả thực vừa qua chúng ta cũng phải chia sẻ với một số tập đoàn, tổng công ty do suy thoái kinh tế thế giới làm cho chiếc lược đầu tư của người ta bị ảnh hưởng. Tôi ví dụ, Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam Vinashin là một minh chứng rất rõ. Khi Vinashin có rất nhiều hợp đồng kinh tế đối với các đơn vị nước ngoài nhưng đùng một cái do kinh tế thế giới suy giảm nên Vinashin rơi vào tình trạng khó khăn.
Theo tôi nếu thấy những dự án nào có hiệu quả rồi mà các DN lại gặp khó khăn thì nhà nước cũng phải có can thiệp hỗ trợ để những dự án đó được thực hiện. Tránh tình trạng dự án càng trậm trễ thì hiệu quả dự án càng kém.
- Cụ thể, với Tập đoàn Vinashin xử lý thế nào, theo ông?
Đối với DN gặp khó khăn như vậy thì nhà nước phải có tạo điều kiện về vốn và các phương diện khác để dự án không bị đình trệ.
- Theo ông có phải xử lý trách nhiệm của cá nhân nào không?
Tôi nghĩ phải xem xét chiến lược đầu tư của một số tập đoàn vì trong kinh doanh phải có rủi ro, có những quyết định là đúng nhưng có những cái do tác động yếu tố khách quan tác động đến chiến lược đầu tư, chúng ta phải xem xét căn nguyên của nó trừ trường hợp khi vì lợi ích cục bộ hay lợi ích cá nhân nào đó mà người ta vi phạm.
Cái này chúng ta phải xem xét thật thấu đáo, chứ nhìn về mặt hình thức thì những dự án đầu tư nằm trong chiến lược mà nó có khó khăn như vậy mà còn hiệu quả thì vẫn phải can thiệp.
- Nhưng trường hợp Vinashin nhà nước vừa dành nguồn vốn lớn, vừa dành một khoản ưu đãi nhưng đến nay vẫn nợ dây dưa và còn chậm đóng thuế?
Tôi cũng chưa có điều kiện giám sát sâu, chi tiết vào hoạt động sản xuất kinh doanh cụ thể của từng DN, ở đây ta đang nói trên khía cạnh là xem xét trên một bình diện tổng quan nhất về hiệu quả sử dụng vốn và tài sản của các tập đoàn, tổng công ty thì thấy rằng tổng số nợ của một số tập đoàn, trong đó nợ của Vinashin là khá cao so với vốn chủ sở hữu của mình.
Như tôi đã nói là nợ vay này phần lớn đầu tư cho trung hạn và dài hạn để mở rộng, sản xuất kinh doanh cái đấy chúng ta phải xem xét. Nhưng do chiến lược của ''anh'' không đúng, hoặc do ''anh'' đầu tư phát triển "nóng" quá cho nên dẫn đến hậu quả trên. Tôi nghĩ chúng ta cũng nên xem xét đến trách nhiệm của các ban quản trị của các tập đoàn tổng công ty đấy. Nhưng vẫn phải đầu tư để DN không bị đình trệ.
- Như ông nói việc Vinashin phát triển ''nóng'' như vậy mà lại không hiệu quả, tại sao các cơ quan chức năng không có sự can thiệp kịp thời để hạn chế tình trạng trên, thưa ông?
Trong báo cáo của Quốc hội cũng nói về quan hệ giữa các cơ quan có chức năng là chủ sở hữu đối với các tập đoàn và tổng công ty. Đúng là vấn đề này vẫn còn là một khiếm khuyết trong các văn bản pháp luật của chúng ta là trách nhiệm của chủ sở hữu đối với các đối tượng quản lý của mình.
Nhà nước phải có chính sách cụ thể về đầu tư ngoài ngành
- Khi thảo luận về ngân sách, hầu hết các Đại biểu Quốc hội đều nhất trí không bổ sung vốn cho các tập đoàn tổng công ty (như ngân sách cho 2010 là hơn 5000 tỷ), ông thấy thế nào?
Cái này cũng cần phải xem xét trong từng trường hợp cụ thể, với những DN cụ thể. Vì đã là DN nhà nước mà lại giữ vị trí then chốt của nền kinh tế thì nhà nước vẫn phải có trách nhiệm.
- Theo báo cáo giám sát, có tới hơn 47 Tổng công ty, tập đoàn đầu tư ngoài ngành vào chứng khoán, bất động sản... làm yếu đi sức mạnh chủ lực mà tập đoàn đó đầu tư mà không dùng để khắc phục tình trạng thiếu vốn. Sao đến nay chưa thấy có biện pháp xử lý tình trạng này, thưa ông?
Trong báo cáo cũng nói rõ, trước đây chúng ta chưa có ban bản cụ thể nào nói rõ về điều kiện để một DN nhà nước được đầu tư ra ngoài ngành sản xuất của mình nên mới xảy ra tình trạng có tới 47 tập đoàn, tổng công ty đầu tư ra ngoài ngành với một khối lượng tiền khá lớn.
Tới đây nhà nước phải có quy định cụ thể về điều này. Anh được đầu tư ra ngoài ngành trong trường hợp nào, điều kiện ra sao? trách nhiệm đến đâu?
Sau cuộc giám sát này tôi nghĩ chúng ta phải hoàn thiện, bổ sung một số quy định trên. Điều này cũng chính là do những sai sót của chúng ta trong quản lý nhà nước, khi phát hiện ra nhưng chúng ta cũng không kịp thời ban hành những văn bản để quy định những điều kiện và mức độ đầu tư ra ngoài ngành là thế nào.
- Trong báo cáo giám sát có đưa ra giải pháp để hạn chế tính độc quyền của các tập đoàn, ông có thể nói rõ hơn?
Cái đó không chỉ riêng với tập đoàn, chúng ta đã có luật DN rồi, trong đó có quy định các DN hoạt động bình đẳng như nhau, chúng tôi nghĩ rằng kiến nghị đó để làm sao chính sách của chúng ta càng ngày càng hạn chế bớt cái người ta cho là độc quyền.
Tôi nghĩ rằng trong thời gian qua chúng ta thành lập được 8 tập đoàn, trong báo cáo giám sát cũng đã chỉ rõ được những bất cập về mô hình quản lý, mô hình quản trị nội bộ. Vì vậy, tới đây việc hình thành các tập đoàn mới sẽ rút kinh nghiệm từ một số bất cập trên.
- Xin cảm ơn ông!
Trần Vũ (ghi)
Làm gì để tránh nắng nóng lên tới 42 độ C?