Những biến động vừa qua giúp Chính phủ nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn tính phức tạp trong quản lý một nền kinh tế đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, sang cơ chế thị trường, định hướng XHCN trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, càng thấy rõ hơn những bất cập, yếu kém của mình.
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói như vậy khi báo cáo giải trình làm rõ hơn các băn khoăn, lo lắng của ĐBQH, nhân dân về các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô… tại nghị trường chiều nay, 31/5.
Khó đưa ra con số cụ thể trong mục tiêu kiềm chế lạm phát
Theo Thủ tướng, tình hình kinh tế xã hội 5 tháng đầu năm và tháng 5 có bước tăng trưởng khá, khả quan, thể hiện rõ ở các kết quả về sản xuất kinh doanh, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, giá trị xuất khẩu tăng…
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình kinh tế - xã hội vẫn nổi lên 2 vấn đề lớn: Một là giá tiêu dùng tăng cao làm cho đời sống của người nghèo, người có thu nhập thấp khó khăn, thiếu đói ở một số địa phương tăng lên. Hai là nhập siêu còn lớn, đe doạ sự ổn định kinh tế vĩ mô.
|
| Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: TTXVN |
Trong báo cáo, Thủ tướng tập trung làm rõ nguyên nhân vì sao giá tiêu dùng tháng 5 lại tăng cao hơn so với 2 tháng trước đó, cũng như căn cứ điều chỉnh mục tiêu tăng trưởng từ 8,5% xuống còn 7% như đề nghị của Chính phủ gần đây với QH.
Về điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP, theo Thủ tướng, tình hình kinh tế xã hội 5 tháng đầu năm cho thấy việc thực hiện chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ 8,5-9% và phấn đấu cao hơn đã đề ra kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008 là không hiện thực.
Lý do, thực hiện nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu là kiềm chế lạm phát, chúng ta phải áp dụng chính sách tiền tệ thắt chặt, hạn chế mức tăng của tổng phương tiện thanh toán, tổng dư nợ tín dụng. Rà soát điều chỉnh đầu tư công, đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước và tiết kiệm chi tiêu ngân sách, dành thêm ngân sách cho các nhiệm vụ an sinh xã hội. Chính những biện pháp này đã làm giảm nguồn lực cho tăng trưởng.
Ngoài ra, Thủ tướng giải thích, do giá cả thị trường thế giới tăng cao làm chi phí đầu vào tăng lên trong khi giá đầu ra chưa tăng tương ứng. Kinh tế của các đối tác thương mại chính của Việt Nam suy giảm làm cho xuất khẩu của ta gặp khó khăn. Đầu tư gián tiếp từ nước ngoài có phần giảm sút cũng làm giảm mức tăng trưởng. Mặc dù GDP quý I tăng 7,4% nhưng tốc độ tăng đã chậm lại và thấp hơn nhiều so với nhiệm vụ kế hoạch.
"Từ tình hình trên, việc giảm tốc độ tăng trưởng là một yêu cầu thực tế và cần thiết. Để xác định cụ thể chỉ tiêu tăng trưởng năm 2008 theo tinh thần kiềm chế lạm phát và duy trì tăng trưởng bền vững, Chính phủ đã giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương phối hợp với một số cơ quan trong nước và tổ chức quốc tế tính toán các khả năng tăng trưởng theo 3 phương án. Kết quả mức tăng trưởng theo phương án cơ bản là 7,2%, phương án cao là 7,6%, phương án thấp là 6,7%. Sau khi cân nhắc các mặt, Chính phủ xin kiến nghị Quốc hội xem xét chấp nhận mức tăng GDP năm 2008 khoảng 7%".
Thủ tướng cho rằng, mức tăng này cũng tương đương với dự báo của một số tổ chức quốc tế về tốc độ tăng trưởng của kinh tế nước ta năm 2008 và phù hợp với xu thế giảm chỉ tiêu tăng trưởng ở nhiều nước trên thế giới từ 0,5 đến 2% trước tình hình lạm phát và giá cả thế giới tăng cao như hiện nay.
Giải đáp thắc mắc của nhiều ĐBQH vì sao cùng chịu tác động tăng giá khách quan của thế giới, nhưng Việt Nam lại có chỉ số lạm phát cao hơn nhiều nước trong khu vực, Thủ tướng cho biết, nguyên nhân thứ nhất là do đầu tư kém hiệu quả làm cho sức cạnh tranh của sản phẩm và của nền kinh tế thấp. Đây là nguyên nhân sâu xa gây lạm phát và đã tồn tại nhiều năm nhưng chậm được khắc phục.
Thứ hai là giá lương thực, thực phẩm có tác động rất lớn, rất trực tiếp đến chỉ số giá tiêu dùng ở nước ta. Do thu nhập bình quân đầu người và mức sống thấp nên khoản chi mua lương thực, thực phẩm chiếm tỷ trọng lớn trong tiêu dùng của đa số dân cư. Nhóm hàng này chiếm tới 42,85% cơ cấu hàng hóa tính chỉ số giá tiêu dùng và có tốc độ tăng giá cao nhất, liên tục trong những năm gần đây.
Thứ ba là kim ngạch nhập khẩu nước ta gần bằng 90% GDP, nên sự biến động của giá thị trường thế giới tác động đến giá trong nước sâu rộng hơn. Những năm gần đây, giá nhiều mặt hàng trên thị trường thế giới tăng mạnh, nhiều mặt hàng có tốc độ tăng rất cao, lại là những mặt hàng ta nhập khẩu với khối lượng lớn. Tình hình đó gây ra hiện tượng nhập khẩu lạm phát.
Mặt khác, trong khi nhiều nước trong khu vực đã điều chỉnh tăng giá nội tệ so với đồng đô la Mỹ, việc đồng Việt Nam mất giá so với đồng đô la Mỹ tuy có tạo thuận lợi cho xuất khẩu nhưng cũng làm cho tình trạng nhập khẩu, lạm phát được khuyếch đại thêm lên.
Thứ tư là trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, chúng ta đã chủ động điều chỉnh giá một số mặt hàng Nhà nước còn trực tiếp quản lý. Đây là việc làm cần thiết được thực hiện có lộ trình, từng bước góp phần bỏ bù lỗ, xóa bao cấp qua giá, mặc dù mức giá mới nói chung vẫn còn thấp so với giá thị trường thế giới, nhưng mỗi lần điều chỉnh như vậy đều làm cho giá thị trường trong nước tăng lên.
Và thứ năm là việc tăng lương cơ bản cũng làm cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên, tạo sức ép, gây tâm lý tăng giá.
Về xác định chỉ số lạm phát năm 2008, theo Thủ tướng, lạm phát ở nước ta ngoài những nguyên nhân thuộc chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và những nguyên nhân nội sinh khác, còn phụ thuộc rất lớn vào các yếu tố bên ngoài, giá lương thực thế giới đang tăng cao, kéo theo giá trong nước tăng lên. Các yếu tố này đang diễn biến phức tạp và tác động đan xen trong khi thời gian đến cuối năm chỉ còn 7 tháng, rất khó có đủ căn cứ vững chắc để trình Quốc hội con số cụ thể về tốc độ tăng giá.
"Vì vậy, Chính phủ đề nghị Quốc hội chấp nhận mục tiêu kiềm chế lạm phát trong năm 2008 là tích cực phấn đấu kiềm chế lạm phát và tốc độ tăng giá bằng các biện pháp tổng hợp, đưa tốc độ tăng giá tiêu dùng theo hướng giảm dần, tạo cơ sở để đưa tốc độ tăng giá xuống một con số trong vài năm tới" - Thủ tướng đề nghị.
Sẽ kiểm toán việc đầu tư tùy tiện của các Tập đoàn, TCT Nhà nước
Theo báo cáo của Thủ tướng, sau một quá trình sắp xếp, đổi mới và phát triển doanh nghiệp Nhà nước, hiện nay cả nước có 8 tập đoàn kinh tế, 96 tổng công ty Nhà nước, các tập đoàn, tổng công ty chủ yếu hoạt động theo hình thức công ty mẹ, công ty con, trong đó 74% Công ty con là Công ty cổ phần đa sở hữu.
Kết quả sản xuất kinh doanh của 76 Tập đoàn, Tổng công ty năm 2007 so với năm 2006 đạt khá, hầu hết Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty sản xuất kinh doanh có lãi, tổng vốn chủ sở hữu là 377.000 tỷ đồng, tăng 18%, chủ yếu được bổ sung từ lợi nhuận. Tổng tài sản năm 2007 tăng 26%, tổng doanh thu tăng 24%, tổng lợi nhuận tăng 23%, tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt 17% (năm 2006 là 16%). Giá trị sản lượng hàng hóa dịch vụ chiếm 40% GDP, đóng góp 28,8% tổng thu nội địa, không kể thu dầu thô và thuế xuất nhập khẩu.
"Tuy hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh còn thấp, các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước đã góp phần quan trọng vào ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm cân đối cung cầu, bình ổn giá cả một số mặt hàng thiết yếu. Một số doanh nghiệp xây dựng được thương hiệu có uy tín trên thị trường, đầu tư đổi mới công nghệ thiết bị và xây dựng được đội ngũ lao động kỹ thuật cao bảo đảm được nhiều công việc trước đây vẫn phải thuê hoặc mua của nước ngoài" - người đứng đầu Chính phủ nhìn nhận.
Thủ tướng cũng dẫn ra những con số về tỷ lệ vốn đầu tư ra bên ngoài của các Tập đoàn, TCT với các ĐBQH. Cụ thể, theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến ngày 31/12/2007, tổng số vốn huy động bao gồm vốn vay trong nước, vay nước ngoài, vay ngắn hạn, dài hạn và các khoản nợ phải trả khác của 76 tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước là 514.000 tỷ đồng, gấp 1,36 lần vốn chủ sở hữu.
Cũng tính đến ngày 31/12/2007, có 13 tập đoàn, Tổng công ty đầu tư vào các Quỹ đầu tư chứng khoán và Quỹ đầu tư tài chính với tổng giá trị là 1061 tỷ đồng bằng 0,31% vốn chủ sở hữu và bằng 0,13% tổng giá trị tài sản của các doanh nghiệp này.
Có 19 tập đoàn, Tổng công ty góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần với tổng giá trị đầu tư 4426 tỷ đồng bằng 1,3% vốn chủ sở hữu và bằng 0,55% tổng giá trị tài sản. Có 13 tập đoàn, Tổng công ty góp vốn thành lập 15 công ty chứng khoán với tổng giá trị đầu tư 420 tỷ đồng, bằng 0,12% vốn chủ sở hữu và bằng 0,05% tổng giá trị tài sản. Có 18 tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước góp vốn đầu tư vào lĩnh vực bất động sản với tổng giá trị đầu tư 1.463 tỷ đồng bằng 0,43% vốn chủ sở hữu và 0,18% tổng giá trị tài sản của chính các doanh nghiệp này.
"Xét chung tổng vốn đầu tư vào 3 lĩnh vực trên là 7.370 tỷ đồng là con số không nhỏ, nhưng không cao so với vốn chủ sở hữu và tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp. Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ nhận thức rõ rằng các Tập đoàn, TCT Nhà nước hiện đang hoạt động trong các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế, nắm giữ một khối lượng lớn tài sản quốc gia, chiếm tỷ trọng cao nợ nước ngoài và nợ các ngân hàng trong nước của khối doanh nghiệp" - Thủ tướng nhìn nhận.
Theo Thủ tướng, hiệu quả hoạt động của các Tập đoàn, các Tổng công ty Nhà nước có ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Vì thế, hoạt động của khối doanh nghiệp này cần phải được giám sát chặt chẽ, đánh giá một cách đầy đủ, nghiêm túc, minh bạch thông qua kiểm toán độc lập tin cậy nhằm nắm chắc thực trạng, có giải pháp kịp thời, phù hợp để khắc phục các yếu, kém, nâng cao trách nhiệm và hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này trong công cuộc phát triển đất nước.
"Chính phủ đang chỉ đạo chuẩn bị sơ kết việc thí điểm mô hình Tập đoàn kinh tế và xây dựng Nghị định về tập đoàn kinh tế Nhà nước. Trước mắt, kiểm soát chặt chẽ việc các tập đoàn, TCT Nhà nước đầu tư vào kinh doanh chứng khoán, ngân hàng, bất động sản, đồng thời đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp Nhà nước theo kế hoạch đề ra. Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố với tư cách là đại diện chủ sở hữu Nhà nước tập trung chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện này" - Thủ tướng cho biết.
Không tăng giá đồng loạt các mặt hàng thiết yếu sau tháng 6
Giải trình trước QH, Thủ tướng nhấn mạnh, một trong những nội dung cốt lõi của quá trình đổi mới ở nước ta là thực hiện cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước trong đó bao gồm lĩnh vực giá cả. Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XII đã quyết nghị về một trong những nhiệm vụ năm 2008 là xây dựng và công bố lộ trình thực hiện giá thị trường đối với các hàng hoá và dịch vụ Nhà nước còn kiểm soát việc định giá.
Tuy nhiên, theo Thủ tướng, những tháng cuối năm 2007 và đầu năm 2008 lạm phát tăng cao, để ưu tiên cho mục tiêu kiềm chế lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội, Chính phủ đã chủ trương chưa điều chỉnh tăng giá điện, xăng dầu, than, nước sinh hoạt, cước vận chuyển máy bay, tàu hoả, xe buýt đến hết tháng 6/2008 và sẽ căn cứ vào tình hình lạm phát và biến động trên thị trường để có phương án tổng thể thích hợp cả về thời gian và mức độ đối với từng loại, từng nhóm sản phẩm với phương châm Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng cùng chia sẻ lợi ích, cùng gánh vác trách nhiệm. Nhà nước sẽ hỗ trợ thích hợp cho những đối tượng còn nhiều khó khăn. Chính phủ không chủ trương tăng giá đồng loạt các mặt hàng nói trên sau tháng 6.
Thủ tướng cho biết, việc điều hành giá sắp tới sẽ theo định hướng: Đối với các mặt hàng do Nhà nước trực tiếp quản lý giá, việc điều chỉnh giá phải căn cứ vào kết quả chống lạm phát, tác động của việc điều chỉnh giá đến giá cả thị trường và đời sống nhân dân. Trường hợp cần điều chỉnh thì phải xác định bước đi và lộ trình phù hợp.
Riêng đối với mặt hàng xăng dầu, do giá đang tăng cao và biến động rất phức tạp. Với giá bán hiện tại, mức bù lỗ là rất lớn. Nếu lấy bình quân giá dầu thô thế giới, nửa tháng gần đây bình quân là 128 USD/ thùng và giữ ổn định giá bán trong nước như hiện nay mức bù lỗ cả năm là 40.600 tỷ đồng. Nếu lấy giá bình quân 5 ngày gần đây, từ ngày 22 đến ngày 27/05 là 132 USD/thùng thì mức bù lỗ cả năm ước khoảng 44.800 tỷ đồng.
"Trong tình hình lạm phát hiện nay, việc xử lý giá xăng dầu cần được cân nhắc thận trọng, dựa trên khả năng bù lỗ của ngân sách, lấy kết quả kiềm chế lạm phát và tác động của điều chỉnh giá xăng dầu đến các mặt hàng khác, có tính đến việc hỗ trợ thích hợp cho những đối tượng gặp khó khăn. Trước hết, các doanh nghiệp nhập khẩu xăng dầu phải bảo đảm đủ nguồn hàng, triệt để tiết kiệm chi phí, kiên trì phương châm lấy lúc lãi bù lúc lỗ, không chạy theo sự thay đổi nhất thời của thị trường, áp dụng các biện pháp mạnh để chống đầu cơ và buôn lậu xăng dầu qua biên giới" - Thủ tướng nêu rõ quan điểm của Chính phủ.
"Trong thực tế điều hành kinh tế - xã hội, không ít trường hợp có khoảng cách giữa nói và làm với thực hiện chủ trương chính sách đó trong thực tiễn. Nếu không đủ quyết tâm, chỉ đạo không quyết liệt, hành động không khẩn trương và đồng bộ, không thường xuyên kiểm tra, giám sát chặt chẽ, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện, dù mục tiêu có đúng, giải pháp có tốt cũng không đạt được kết quả như mong muốn" - Thủ tướng thẳng thắn nhìn nhận
Trước QH, Thủ tướng tỏ rõ thái độ cầu thị và thẳng thắn nhận khuyết điểm về việc giá cả tăng cao làm cho đời sống của đại bộ phận dân số nước ta vốn đang thấp lại khó khăn thêm, nhất là những người nghèo, người lao động có thu nhập thấp
"Chính phủ thấu hiểu chia sẻ với đồng bào và càng thấy rõ hơn trách nhiệm của mình, càng phải ra sức phấn đấu quyết liệt để kiềm chế lạm phát. Những biến động vừa qua giúp Chính phủ nhận thức đầy đủ hơn, sâu sắc hơn tính phức tạp trong quản lý một nền kinh tế đang chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, sang cơ chế thị trường, định hướng XHCN trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, càng thấy rõ hơn những bất cập, yếu kém của mình.
Mỗi thành viên Chính phủ cũng có thêm những bài học mới, kinh nghiệm mới, Chính phủ nhận thức rằng thái độ nhận khuyết điểm tích cực và có trách nhiệm, nhất là nhìn thẳng vào sự thật, nhìn thẳng vào những bất cập yếu kém của mình với tinh thần thực sự cầu thị, kiên quyết khắc phục khuyết điểm đồng thời phát huy ưu điểm, khẩn trương hành động với trách nhiệm cao nhất để đem lại những kết quả thiết thực trong cuộc sống" - Thủ tướng nói.
Ông cũng bày tỏ tin tưởng, phát huy truyền thống đại đoàn kết dân tộc vốn có, chúng ta sẽ thực hiện có kết quả mục tiêu phấn đấu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội và tăng trưởng bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp tục tạo lập các cơ sở làm tiền đề cho sự phát triển bền vững vào những năm sau.
|
Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để điều chỉnh tăng lương Trong báo cáo giải trình, Thủ tướng cũng dành phần lớn thời gian để nói về chủ trương, chính sách an sinh xã hội trong tình hình mới. |
Nguyệt Minh
Làm gì để tránh nắng nóng lên tới 42 độ C?